Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày: 31 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Vững.

2. Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Linh - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn Đ, sinh năm 1986; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Long An; HKTT: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Vũ Văn V, sinh năm 1948 (còn sống) và bà Võ Thị T, sinh năm 1962 (còn sống); Vợ tên Nguyễn Thị Cửu L (đã ly hôn); Có 01 người con sinh năm 2015; Tiền án: Có 01 tiền án vào ngày 29/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2022, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/11/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 31/8/2013 (đã xóa án tích); ngày 10/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 21/8/2017 (đã xóa án tích); Tạm giữ: Ngày 14/01/2024; Tạm giam: Ngày 23/01/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thanh H, sinh năm 1976. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vũ Văn Đ là người nghiện mà túy, có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và không có nơi ở ổn định. Trong thời gian chấp hành án tại Trại giam K ở tỉnh Kiên Giang, Đ nghe những người chấp hành án chung kể lại khi muốn mua ma túy thì cứ đến khu vực cầu C thuộc xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang dừng xe đậu lại chờ thì tự có người đến liên hệ để bán ma túy. Khoảng hơn 18 giờ ngày 14/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo Đ một mình điều khiển xe mô tô biển số 68KA- 004.60 từ thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đến địa điểm trên tuyến quốc lộ A gần cầu C thuộc xã A, huyện C. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, trong lúc Đ dừng xe đợi thì có một người đàn ông không rõ lai lịch đến hỏi Đ có mua ma túy không. Đ trả lời là có, đồng thời đưa cho người này 700.000 đồng, nhận tiền xong người đàn ông này điều khiển xe mô tô đi lấy ma túy đến bán cho Đ. Khoảng 15 phút sau, người này quay lại giao cho Đ 01 bọc nylon màu vàng, bên trong có 01 tờ giấy màu trắng chứa 07 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín 02 đầu, bên trong là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 0,714 gam (theo Kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ). Giao ma túy cho Đ xong người này liền điều khiển xe bỏ đi. Sau khi nhận được ma túy, Đ xắn ống quần Jean màu xanh bên trái đang mặc thành 02 nếp gấp rồi cất giấu số ma túy này vào bên trong, xong điều khiển xe mô tô biển số 68KA- 004.60 quay về thị trấn M, huyện T.

Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, trên đường về đến đoạn đường thuộc ấp M, xã M, huyện T, Đ bị Tổ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự, trật tự an toàn giao thông T10 của Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp dừng xe kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đ có hành vi tàng trữ số ma túy như đã nêu trên.

Vật chứng, tài sản đã thu giữ:

  • - Thu giữ 07 đoạn ống hút màu trắng trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có nhiều tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 0,714 gam được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A.
  • - 01 xe mô tô biển số 68KA- 004.60 (xe này của ông Nguyễn Thanh H bán cho Đ nhưng chưa làm thủ tục sang tên), 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Forme màu đen loại bàn phím, 01 hộp quẹt ga màu vàng, 01 áo thun màu xám, 01 quần jean màu xanh, 01 cây kéo kim loại màu trắng có chữ S, 01 túi nylon màu vàng, 01 tờ giấy màu trắng.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSTM ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

3

  • - Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
  • + Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Về hình phạt:
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • + Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Đ từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
  • + Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên như phần đề nghị của Bản cáo trạng.
  • - Bị cáo Vũ Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận nội dung gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tiền cho bị cáo, vì hoàn cảnh của bị cáo khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh H:

Xét thấy, anh H là người đứng tên chủ sở hữu chiếc xe biển số 68KA- 004.60, nhưng anh H khai anh đã bán cho người thanh niên ở Đồng Tháp và anh không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này. Do đó, tuy anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, không có lý do, nhưng việc xét xử vắng mặt anh H không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án và quyền lợi của anh H nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với bị cáo Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi

4

phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTM ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát huyện T là đúng với hành vi của bị cáo. Cụ thể, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,714 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cá nhân, bị phát hiện bắt quả tang vào ngày 14/01/2024, tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, Kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tội danh và hình phạt cụ thể như sau:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

[4] Xét bản thân bị cáo có nhân thân xấu, còn có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã mua ma túy về để sử dụng, trên đường vận chuyển ma túy về thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ tang vật nên phạm tội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành. Bản thân bị cáo đã có tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện tội phạm nên thuộc trường hợp tái phạm theo luật định. Từ đó, xác định bị cáo có thái độ rất xem thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước nên cần có một mức hình phạt thật nghiêm cho tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn làm mất tình hình an ninh trật tự trị an tại nơi xảy ra vụ án.

[6] Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội sau này. Đồng thời cũng nhằm để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Vì hiện nay tình hiện tội phạm liên quan đến các chất ma túy ngày càng gia tăng về số vụ và số bị cáo.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

5

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Trả lại cho bị cáo Vũ Văn Đ gồm: 01 xe mô tô biển số 68KA- 004.60, 01 điện thoại di động hiệu Forme màu đen loại bàn phím, 01 áo thun màu xám, 01 quần jean màu xanh và 01 mũ bảo hiểm màu đen do không liên quan đến việc phạm tội.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp quẹt ga màu vàng, 01 cây kéo kim loại màu trắng có chữ S, 01 túi nylon màu vàng, 01 tờ giấy màu trắng, ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,636 gam được niêm phong trong bì thư ghi “Niêm phong số 62 ngày 15/01/2024” là vật chứng và công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, cần phạt tiền bổ sung bị cáo mới đủ sức răng đe nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn Đ là 10.000.000 đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[12] Đối với người mà bị cáo Đ khai bán ma túy, do không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể nên không tiến hành xác minh, làm việc được. Do đó, tách ra khỏi vụ án này, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

[13] Xét đề nghị của V1 đại diện Viện kiểm sát huyện T về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 14/01/2024.

3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Phạt tiền bổ sung bị cáo Vũ Văn Đ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

6

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Trả lại cho bị cáo Vũ Văn Đ gồm: 01 xe mô tô biển số 68KA- 004.60, 01 điện thoại di động hiệu Forme màu đen loại bàn phím, 01 áo thun màu xám, 01 quần jean màu xanh và 01 mũ bảo hiểm màu đen.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp quẹt ga màu vàng, 01 cây kéo kim loại màu trắng có chữ S, 01 túi nylon màu vàng, 01 tờ giấy màu trắng, ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,636 gam được niêm phong trong bì thư ghi “Niêm phong số 62 ngày 15/01/2024”.

(Các vật chứng, tài sản nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang tạm quản lý).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKS Tỉnh, Huyện;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger