Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày: 31-5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Chánh Thể

Ông Nguyễn Văn Thuận

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Quốc D, sinh ngày 09/3/1980, tại tỉnh Bến Tre, tên gọi khác: không.

ĐKTT: số 200D, ấp C, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; chỗ ở hiện nay: số F, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh P, sinh năm 1954 (chết) và bà Phạm Thị K, sinh năm 1952; vợ Võ Thị Mỹ D1, sinh năm 1987; có 01 người con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, xử phạt 06 tháng tù về “Tội đánh bạc”. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trong vụ án khác. Bị cáo có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Công N, sinh năm 1987. Nơi cư trú: số E, ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  2. Nguyễn Minh D2, sinh năm 1995. Nơi cư trú: số B, ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (có mặt).
  3. Nguyễn Văn T, sinh năm 1968. Nơi cư trú: ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (có mặt).
  4. Trần Thị Kim H, sinh năm 1968. Nơi cư trú: ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (có mặt).
  5. Thạch Văn L, sinh năm 1964. Nơi cư trú: ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  6. Tạ Thị Ánh T1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: số F, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/11/2023, Trần Quốc D được người bạn tên H1 (ở thành phố Hồ Chí Minh, không rõ địa chỉ cụ thể) cho 01 khẩu súng ngắn, bên trong súng có lắp 06 viên đạn, D mang về cất giấu tại khu vực bên ngoài nhà trọ số 62A5, Khu phố D, Phường H, thành phố B. Khoảng 09 giờ ngày 14/11/2023, D điều khiển xe mô tô biển số 71B4-279.47 chở Nguyễn Công N đến nhà Nguyễn Minh D2 ở ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre để đòi nợ. Khi đi, D mang theo khẩu súng, bên trong súng có lắp 06 viên đạn mà H1 đã cho nêu trên, 01 roi điện và 01 gậy ba khúc để trong cốp xe mô tô biển số 71B4-279.47. Đến trước nhà D2, D mở cốp xe lấy roi điện và gậy ba khúc đưa cho Nên và kêu Nên ở ngoài giữ xe còn D lấy khẩu súng bỏ vào túi quần rồi đi vào nhà D2. Tại đây, D gặp ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Kim H (cha, mẹ ruột của D2) và đòi số tiền mà D2 nợ D. Lúc này, D2 đang trốn phía sau nhà, thấy D đi vào nhà nên D2 gọi điện trình báo Công an xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre đến giải quyết sự việc.

Khi Công an xã S đến, kiểm tra trên người D phát hiện trong túi quần của D có 01 khẩu súng ngắn dạng súng ổ quay màu đen, thân súng và tay cầm bằng nhựa, ổ quay và nòng súng bằng kim loại, trên thân súng có ghi chữ “SMITH&WESSON-MADE IN CHINA-ZP5”, số súng “XYL221108441”, bên trong súng có lắp 06 viên đạn bằng kim loại, thân đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, đít đạn có ký hiệu “C”. Sau đó, Công an xã S báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Quốc D và thu giữ vật chứng.

Vật chứng do cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G thu giữ sau đó giao cho Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh B gồm:

  • - 01 khẩu súng ngắn dạng súng ổ quay màu đen, thân súng và tay cầm bằng nhựa, ổ quay và nòng súng bằng kim loại, trên thân súng có ghi chữ “SMITH&WESSON-MADE IN CHINA-ZP5”, số súng “XYL221108441”.
  • - 06 viên đạn bằng kim loại dài 25mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám đen, đít đạn có cùng ký hiệu “C” bên trong buồng đạn của súng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5F, vỏ màu đỏ, gắn sim số 0818548272.
  • - 01 viên đạn bằng kim loại dài 25mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám đen, đít đạn có cùng ký hiệu “C” (thu giữ lúc khám xét).

Tại Kết luận giám định số 1788/KL-KTHS ngày 23/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm, hiện tại khẩu súng đã được cải tạo lại buồng chứa đạn, nòng súng và bộ phận kim hỏa để bắn được với loại đạn thể thao cỡ (5.6x15.5)mm, khẩu súng trên có đầy đủ các bộ phận, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
  • - Sử dụng khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 bắn với loại đạn thể thao cỡ (5.6x15.5) mm, đạn nổ vào cơ thể người có thể gây thương tích hoặc chết người.
  • - 07 viên đạn gửi giám định ký hiệu A2, A3 là đạn thể thao cỡ (5.6x15.5) mm, không phải đạn quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng cỡ nòng 5.6mm như: Súng Toz8, súng ám sát hình bút...các loại súng chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn 6mm và khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1.

Quá trình điều tra Trần Quốc D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B đã giao trả cho Trần Quốc D điện thoại di động hiệu OPPO A5F, vỏ màu đỏ, kèm theo thẻ sim có ký hiệu 89840200011241192895 (số thuê bao của thẻ sim 0818548272).

Bản Cáo trạng số 35/CT-VKSBT-P1, ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố Trần Quốc D về "Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Quốc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung kết luận điều tra và nội dung cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát huyện G tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm“Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc D có mức án từ 02 năm tù đến 03 năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt Trần Quốc D 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Buộc bị cáo Trần Quốc D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, giao cho Ban chỉ huy Quân sự tỉnh B xử lý theo quy định, đối với:

  • - 01 khẩu súng màu đen, dạng ổ quay có các ký kiệu “SMITH&WESSON-MADE IN CHINA-ZP5”, số súng “XYL221108441”, đã được giám định là vũ khi có tính năng, tác dụng tương tự với vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
  • - 04 viên đạn thân đạn màu vàng, đầu đạn màu xám đen, đít đạn có cùng ký hiệu “C” đã được giám định là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm.
  • - 03 vỏ đạn bằng kim loại thân đạn màu vàng, đít đạn có cùng ký hiệu “C” đã được giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x 15,5) mm.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo và người làm chứng có mặt không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa người làm chứng ông Nguyễn Văn N1, ông Thạch Văn L, bà Tạ Thị Ánh T1 đều vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã có lời khai rõ ràng. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không làm trở ngại cho việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra. Từ đó, có cơ sở khẳng định: khoảng 09 giờ ngày 14/11/2023, Trần Quốc D mang theo khẩu súng là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng, đến nhà Nguyễn Minh D2 tại ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre để đòi nợ thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ.

Bị cáo Trần Quốc D thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Trần Quốc D phạm “Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo cất giữ khẩu súng là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng, mọi hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước đối với vũ khí quân dụng đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật nhằm đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung, góp phần ổn định về an ninh trật tự tại địa phương.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • - Về nhân thân: tại thời điểm bị cáo phạm tội chưa có tiền sự, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre kết án 06 tháng tù về “Tội đánh bạc (hành vi thực hiện đánh bạc ngày 18/7/2022). Đến ngày 09/11/2023 bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng thì chưa xét xử về tội đánh bạc của bị cáo nên không xác định là bị cáo có tiền án trong vụ án này.
  • - Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có mẹ ruột được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, do đó bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Qua xem xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội là tội phạm nghiêm trọng, đồng thời bị cáo đã bị kết án 06 tháng tù về tội đánh bạc và thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy đang bị tạm giam. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải cách ly khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định nhằm tiếp tục cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm.

[7] Hiện nay, bị cáo D đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo Trần Quốc D đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre kết án 06 tháng tù về “Tội đánh bạc” theo bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST, ngày 12/01/2024. Hiện nay bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Trần Quốc D và Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã ra Quyết định thi hành án phạt tù số 41/2024/QĐ-CA, ngày 19/02/2024. Thi hành án hình phạt 06(sáu) tháng tù về "Tội đánh bạc", thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Tuy nhiên, do bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác nên Cơ quan thi hành án hình sự chưa thi hành Quyết định thi hành án phạt tù số 41/2024/QĐ-CA, ngày 19/02/2024. Do vậy, cần phải tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo D phải chấp hành chung theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[8] Xử lý vật chứng:

  • - 01 khẩu súng màu đen, dạng ổ quay có các ký kiệu “SMITH&WESSON-MADE IN CHINA-ZP5”, số súng “XYL221108441”, đã được giám định là vũ khi có tính năng, tác dụng tương tự với vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
  • - 04 viên đạn thân đạn màu vàng, đầu đạn màu xám đen, đít đạn có cùng ký hiệu “C” đã được giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x 15,5 )mm.
  • - 03 vỏ đạn bằng kim loại thân đạn màu vàng, đít đạn có cùng ký hiệu “C” đã được giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x 15,5 )mm.

Các vật chứng nêu trên là công cụ cấm tàng trữ nên tịch thu, giao cho Ban chỉ huy Quân sự tỉnh B xử lý theo quy định.

[9] Đối với 07 viên đạn được giám định là đạn thể thao, do bị can chưa có tiền án, tiền sự về tội này nên không xem xét xử lý bị can về “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép..., vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự.

[10] Đối với Nguyễn Công N, mặc dù cùng đi với bị cáo D đến nhà Nguyễn Minh D2 để đòi nợ nhưng không biết D có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng trước đó. Do đó, không xem xét xử lý Nên về “Tội không tố giác tội phạm”.

[11] Đối với đối tượng tên H1 đưa súng, đạn cho bị cáo D do chưa xác định họ, tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét, xử lý sau.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Về án phí: Bị cáo Trần Quốc D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm“Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  2. Phạt bị cáo Trần Quốc D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự.

    Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc” theo bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

    Buộc bị cáo Trần Quốc D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  4. Tịch thu, giao cho Ban chỉ huy Quân sự tỉnh B xử lý theo quy định đối với:

    • - 01 khẩu súng màu đen, dạng ổ quay có các ký kiệu “SMITH&WESSON-MADE IN CHINA-ZP5", số súng “XYL221108441”, đã được giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự với vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
    • - 04 viên đạn thân đạn màu vàng, đầu đạn màu xám đen, đít đạn có cùng ký hiệu “C” đã được giám định là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5 )mm.
    • - 03 vỏ đạn bằng kim loại thân đạn màu vàng, đít đạn có cùng ký hiệu “C” đã được giám định là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

  5. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Buộc bị cáo Trần Quốc D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Cơ quan điều tra An Ninh CA tỉnh Bến Tre;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bên Tre;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Giồng Trôm;
  • - Bị cáo;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ vũ khí dân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger