|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ -----000----- Bản án: 25/2024/HSST Ngày 30 tháng 7 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------o0o--------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Kim N
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Khắc Long;
2. Bà: Nguyễn Thị T.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy Minh - cán bộ Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Bùi Xuân Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/QĐHPTST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/QĐHPTST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Xuân D; Tên gọi khác: Không; Giới tính:Nam;
Sinh ngày 03/3/1983 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cơ trú: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Ngô Quý D1, sinh năm 1958; Mẹ đẻ: Hà Thị K, sinh năm 1960; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 32/2007-HSST ngày 27/11/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã thi hành xong các quyết định của bản án và đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
- Người bị hại:
Anh Bùi Quý T1 - sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 08/02/2024, Ngô Xuân D cùng với gia đình anh Bùi Quý T1, sinh năm 1977 ở khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (anh T1 và D chơi thân với nhau) đi xe taxi về quê vợ của anh T1 ở huyện B, tỉnh Hà Giang chơi dịp Tết Nguyên Đán. Trên đường đi đến địa phận tỉnh Tuyên Quang thì xe dừng nghỉ, lúc này anh T1 phát hiện quên không mang theo tiền nên mượn điện thoại của D có số thuê bao là 0843.659.458 gọi điện về cho anh Ngô Quang H, sinh năm 1978 ở khu 11 xã H (là hàng xóm của anh T1) để vay tiền và nhờ anh H chuyển tiền cho anh T1 lấy tiền tiêu Tết. Anh H đồng ý và chuyển qua tài khoản ngân hàng cho anh T1 số tiền 16.000.000 đồng. Sau đó, anh T1 tiếp tục gọi điện cho anh Bùi Văn D2, sinh năm 1981 (là em trai ruột ở cùng nhà anh T1) với nội dung nhờ anh D2 lấy tiền cất trong tủ quần áo ở buồng ngủ vợ chồng anh T1 rồi trả cho anh H số tiền trên. Anh D3 đồng ý và lấy số tiền 16.000.000 đồng cất trong tủ quần áo buồng ngủ vợ chồng anh T1 để trả cho anh H, số tiền còn lại vẫn để trong ví tại vị trí cũ. Toàn bộ quá trình anh T1 gọi điện cho anh H và anh D3 thì D ngồi bên cạnh đều nghe được và biết vị trí vợ chồng anh T1 cất giấu tiền. Sau khi lên chơi tại nhà mẹ vợ của anh T1, đến chiều ngày 08/02/2024, D đi xe taxi đem theo quà Tết về còn gia đình anh T1 ở lại ăn Tết ở đây. Khi về nhà ở của anh T1, Dương ngủ cho đến sáng ngày 09/02/2024 (tức ngày 30/12/2023 âm lịch), D cùng anh Bùi Văn D2 ăn cơm uống rượu tại nhà anh T1. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong thì anh D2 đi ra ngoài làm vườn, còn bà Hà Thị P, sinh năm 1940 (là mẹ đẻ của anh T1) đang ở ngoài sân. Lúc này, D nảy sinh ý định trộm cắp tiền của vợ chồng anh T1 để tiêu sài cá nhân. Vì trước đó thông qua việc anh T1 nói chuyện điện thoại với anh D2 nên D biết vị trí cất giấu tiền của vợ chồng anh T1 nên D đi vào trong buồng ngủ của anh T1, thấy tủ không khóa nên D mở cửa tủ gỗ tìm dưới lớp quần áo ở ngăn trên cùng thấy có một chiếc ví giả da màu đỏ, loại ví phụ nữ, có séc kéo thì D mở ví ra thấy bên trong có nhiều buộc tiền (được buộc thành từng cọc bằng dây chun màu vàng) hoặc nhiều tờ tiền (không xếp thành buộc) gồm các loại tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng, 20.000 đồng và 10.000 đồng. D không đếm số tiền mà lấy chiếc ví cất vào bên trong áo khoác đang mặc trên người rồi đi ra sân hỏi bà P mượn xe máy của anh T1. Thấy bà P đồng ý thì D điều khiển xe đi về nhà mình thuộc khu A, xã H, huyện T. Về đến nhà D vẫn để chiếc ví trong cốp xe máy mượn của anh T1, D thấy có 01 cọc tiền mệnh giá 100.000đ thì Dương đếm được 10.000.000đ. Số tiền còn lại D chưa kiểm đếm. Ngày 13/02/2024, anh Bùi Quý T1 cùng gia đình sau khi về nhà đã phát hiện bị mất trộm tiền, anh T1 đã gọi D đến hỏi nhưng D không thừa nhận, vì lo sợ bị phát hiện nên D đã đem chiếc ví đựng tiền trên đến cầu N ném xuống sông H nên không thu giữ được.
Ngày 19/02/2024, anh Bùi Quý T1 đã trình báo sự việc trên đến Công an xã H và Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã triệu tập lấy lời khai người liên quan, đấu tranh làm rõ được đối tượng trộm cắp tài sản là Ngô Xuân D. Tại cơ quan điều tra, D đã khai nhận hành vi trộm cắp chiếc ví đựng số tiền 36.000.000 đồng của gia đình anh Bùi Quý T1 vào ngày 09/02/2024 tại khu A, xã H, huyện T. Sau khi trộm cắp số tiền trên, vào buổi tối ngày 09/02/2024, Ngô Xuân D đã sử dụng 1.000.000 đồng từ số tiền trộm cắp trên để tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Ba cây” sát phạt nhau bằng tiền tại Nhà văn hóa khu A, xã H, huyện T cùng với các đối tượng đều trú tại xã H, huyện T gồm: Ngô Ngọc T2, sinh năm 1998 đánh bạc với số tiền 400.000 đồng; Trần Văn L, sinh năm 1995 đánh bạc với số tiền 400.000 đồng; Hà Văn L1 sinh năm 1966 đánh bạc với số tiền 700.000 đồng và Lê H1, sinh năm 1990 đánh bạc với số tiền 980.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng trên sử dụng tham gia đánh bạc ngày 09/02/2024 là 3.480.000 đồng. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng Ngô Ngọc T2, Trần Văn L, Hà Văn L1 và Lê H1 đã khai nhận hành vi đánh bạc ngày 09/02/2024 phù hợp với lời khai của D. Ngoài sử dụng vào việc đánh bạc thì D đã tiêu sài cho cá nhân gần hết số tiền đã trộm cắp trên trong dịp Tết Nguyên Đán, chỉ còn lại số tiền 1.143.000 đồng và D đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Lời khai nhận của D phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được.
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã Yêu cầu định giá tài sản xác định trị giá tài sản chiếc ví bị trộm cắp trên. Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T có kết luận số 217 ngày 12/3/2024, kết luận: “01 chiếc ví phụ nữ giả da, có 03 ngăn, màu đỏ, có một khóa séc kéo màu vàng đã bị hỏng, kích thước khoảng (24x12)cm, trị giá là 10.000 đồng”.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 1.143.000 đồng thu giữ của Ngô Xuân D cho anh Bùi Quý T1 là chủ tài sản theo quy định, Ngô Xuân D đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại cho anh Bùi Quý T1 toàn bộ số tiền đã trộm cắp mà D đã tiêu sài, anh T1 đã nhận lại đầy đủ số tiền 36.010.000 đồng và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS-TN ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Ngô Xuân D ra trước Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt đối với: Ngô Xuân D từ 18 tháng đến 21 tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã H để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Do bị cáo không có công việc nên thu nhập không ổn định, đề nghị buộc bị báo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xác nhận biên bản trả lại vật chứng lưu trong hồ sơ là hợp pháp.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự;
Xác nhận anh Bùi Quý T1 đã nhận lại đầy đủ số tiền 36.010.000 đồng và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.
[2]. Về những chứng cứ xác định bị cáo Ngô Xuân D có tội: Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, phù hợp với biên bản làm việc của cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 09/02/2024, tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Ngô Xuân D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc ví trị giá 10.000 đồng bên trong ví đựng số tiền 36.000.000 đồng của anh Bùi Quý T1, sau đó bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, làm rõ.
Hành vi của bị cáo Ngô Xuân D đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của anh Bùi Quý T1, được pháp luật bảo vệ, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
[3]. Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo Ngô Xuân D có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã thi hành xong các quyết định của bản án này và đương nhiên được xóa án tích. Nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà có thể áp dụng một mức hình phạt cho bị cáo cải tạo tại địa phơng, với hình phạt cải tạo không giam giữ theo Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về khấu trừ thu nhập: Do bị cáo không có công việc nên thu nhập không ổn định. Buộc bị báo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần là phù hợp.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 Bộ luật Hình sự có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy qua xác minh của cơ quan điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa bị cáo hiện đang sinh sống cùng gia đình, không có tài sản riêng, không có công việc ổn định, không xác định được thu nhập, nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 1.143.000 đồng thu giữ của Ngô Xuân D cho anh Bùi Quý T1 là chủ tài sản, Ngô Xuân D đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại cho anh Bùi Quý T1 toàn bộ số tiền đã trộm cắp mà D đã tiêu sài, anh T1 đã nhận lại đầy đủ số tiền 36.010.000 đồng và không có yêu cầu đề nghị gì thêm, nên hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[6]. Về xử lý vật chứng: Xác nhận biên bản trả lại vật chứng lưu trong hồ sơ là hợp pháp.
[7]. Đối với hành vi đánh bạc của Ngô Xuân D, Ngô Ngọc T2, Trần Văn L, Hà Văn L1 và Lê H1 vào buổi tối ngày 09/02/2024 tại Nhà văn hóa khu A, xã H, huyện T, nhưng số tiền đánh bạc của các đối tượng trên là dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân các đối tượng Ngô Xuân D, Trần Văn L và Hà Văn L1 chưa bị xử phạt hành chính hay bị kết án về hành vi quy định tại các Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự; đối với Ngô Ngọc T2 và Lê H1 đã bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (năm 2014 đối với T2 chưa thi hành quyết định xử phạt nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt, năm 2021 đối với H1 đã thi hành xong quyết định xử phạt) đến nay được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, T2 và H1 chưa bị kết án về hành vi quy định tại các Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tách hành vi đánh bạc và tài liệu liên quan của các đối tượng trong vụ án hình sự này và chuyển đến Công an huyện T để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Xuân D, Ngô Ngọc T2, Trần Văn L, Hà Văn L1 và Lê H1 về hành vi đánh bạc theo quy định xét thấy là phù hợp.
[8]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
[9]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, Người bị hại, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố:
- Bị cáo Ngô Xuân D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt: Ngô Xuân D 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
- Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại điều 99, 100, 101 Luật thi hành án hình sự.
- Buộc bị báo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
- Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Xác nhận biên bản trả lại vật chứng lưu trong hồ sơ là hợp pháp.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự;
- Xác nhận anh Bùi Quý T1 đã nhận lại đầy đủ số tiền 36.010.000 đồng (Ba mươi sáu triệu không trăm mười nghìn đồng) và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
- Về án phí:
- Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.
V. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo (có mặt) được quyền kháng cáo, Người bị hại (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Thị Kim Nguyên |
Bản án số 25/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 25/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội Trộm cắp tài sản
