|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUÂN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do -Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 30 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Thành và bà Võ Thị Thơ.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Ông Tài Đại Diện – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 13/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh T, sinh năm 1982 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; có vợ là bà Tăng Thị Thanh N, sinh năm 1983 và 03 người con, lớn nhất 21 tuổi, nhỏ nhất 07 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 15/9/2023, bị tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023 chuyển tạm giam. Ngày 25/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Thái Văn T2 (Tên gọi khác: T3), sinh năm 1976 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố F, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn Đ, sinh năm 1933 và bà Phan Thị C (đã chết); có vợ là bà Phùng Thị L, sinh năm 1980 và 02 người con, lớn nhất 24 tuổi, nhỏ nhất 21 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 15/9/2023, bị tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023 chuyển tạm giam. Ngày 25/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. Nguyễn Thị Huyền T4, sinh năm 1979 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố F, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 (đã chết) và bà Dương Thị L1, sinh năm 1946; có chồng là ông Nguyễn Minh B1, sinh năm 1979 và 02 người con, lớn nhất 21 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
4. Bùi Thị Mỹ L2, sinh năm 1998 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi H, sinh năm 1975 và bà Lê Thị T5, sinh năm 1978; có chồng là ông Ngô Trọng T6, sinh năm 1993 và 02 người con, lớn nhất 05 tuổi, nhỏ nhất 03 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
5. Đặng Ngọc B2 (Tên gọi khác: A), sinh năm 1995 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc T7, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Thúy H1 (đã chết); có vợ là bà Lê Thị Thu T8, sinh năm 1994 và 01 người con 02 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Trương Thị T9, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt);
- + Ông Lương Ngọc T10, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Nguyễn Xuân L3, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Hồ Hữu C1, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Trần Ngọc T11, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Nguyễn Minh D, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Khu phố F, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Phan Văn H2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Khu phố F, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Bà Trương Thị H3, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Khu phố F, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Dương Văn M, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt);
- + Bà Lê Thị V, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Lê Hồng T12, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Khu phố A, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt);
- + Ông Thái Ngọc L4, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Khu phố E, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt);
- + Ông Ngô Trọng T6, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt có đơn);
- + Ông Huỳnh Xuân T13, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2023, Trần Thanh T đánh bạc bằng hình thức ghi số đề và trực tiếp cá độ bóng đá với nhiều người trên địa bàn huyện N và thành phố P- T. Cách thức chơi như sau:
Đối với cá độ đá banh: Người chơi có thể chọn các hình thức chơi là cá cược Kèo, T14-Xỉu, tỷ số hay cá cược tất cả các hình thức nêu trên. Thể thức và tỷ lệ thắng thua là theo quy định của Nhà cái.
Đối với chơi số đề: Người chơi lựa chọn các hình thức chơi là cược số đầu, đuôi, bao lô, đá số... tỷ lệ thắng thua được tính như sau: Ở các Đài M và M, cược 02 số đặt 1.000 đồng thắng được 70.000 đồng; cược 03 số đặt 1.000 đồng thắng được 500.000 đồng. Ở Đài Miền Bắc cược 02 số đặt 1.000 đồng thắng được 80.000 đồng; cược 03 số đặt 1.000 đồng thắng được 600.000 đồng. Sau khi có kết mở thưởng ở các đài xổ số thì Trần Thanh T sẽ tổng hợp tịch đề, tính toán tiền thắng thua, sau đó chuyển kết quả qua tin nhắn SMS hoặc tin nhắn Zalo cho nhau để đối chiếu. Sau khi thống nhất thì thanh toán tiền ngay trong ngày hoặc đến sáng hôm sau bằng cách gặp trực tiếp hoặc chuyển qua tài khoản ngân hàng. T thường nhận tịch đề của Thái Văn T2 và đánh trực tiếp với những người khác. Để có nhiều tịch đề, T đã trích lại 35% tổng số tiền đề đã ghi được cho người trực tiếp chuyển tịch đề cho mình bằng cách nhắn tin SMS hoặc gửi qua ứng dụng Zalo đây là tiền hoa hồng. Đối với Thái Văn T2: Để có nhiều tịch đề chuyển cho T nên T2 nhờ Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2, Trương Thị H3 ghi đề rồi chuyển lại cho mình. Tuyết trích cho những người này từ 10% - 30% tổng số tiền đề đã ghi được, số còn lại T2 hưởng.
Ngày 15/9/2023, Cơ quan điều tra Công an tỉnh N phát hiện và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thanh T, Thái Văn T2 thu giữ tiền, điện thoại giấy tờ có liên quan đến việc đánh bạc của T, T2.
Tại cơ quan điều tra, Trần Thanh T, Thái Văn T2 đã tích cực khai báo hành vi phạm tội của mình và của các bị cáo khác để sớm kết thúc điều tra vụ án và các đồng phạm khác đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, trong đó bị cáo B2 đã ra tự thú về hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra chỉ xác định được ngày 14/9/2023 có số tiền đánh bạc (cá độ đá banh và đánh đề) đủ định lượng xử lý hình sự. Đồng thời, Thái Văn T2 thừa nhận ngày 14/9/2023 có nhận tịch đề của những người khác nhưng giữ lại cho mình, các số đề chuyển cho T là do T2 tự đánh bạc với T. Các đài ngày 14/9/2023 gồm: đài M1; đài M gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Bình Định; đài Miền Nam gồm các tỉnh Tây Ninh, Bình Thuận và An Giang. cụ thể:
* Về hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, Trần Thanh T đánh với những người sau:
1. Thái Văn T2 gồm:
Số tiền cá cược đài Miền B3 là 23.150.000 đồng. Kết quả không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 23.150.000 đồng. Số tiền cá cược đài M2 là 48.475.000 đồng. Kết quả không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 48.475.000 đồng. Số tiền cá cược đài Miền T15 là 26.225.000 đồng, tiền trúng thưởng là 87.500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền T15 là 113.725.000 đồng.
03 lần đánh bạc trên của Thái Văn T2 với Trần Thanh T (đánh đài Miền B3, M, M) đều trên 5.000.000 đồng, đủ định lượng xử lý hình sự. T, T2 đã tính toán, tổng số tiền T2 ghi đề là 97.850.000 đồng, T2 hưởng tiền hoa hồng là 34.247.500 đồng (cách tính 97.850.000 đồng x 35%). T2 còn phải chuyển tiền ghi đề cho T 63.602.500 đồng (cách tính 97.850.000 đồng - 34.247.500 đồng) và nhận tiền trúng thưởng; nên số tiền T phải chung cho T2 23.897.500 đồng (cách tính 87.500.000 đồng - 63.602.500 đồng) – Đây là tiền T2 thực nhận và cũng là số tiền T2 hưởng lợi.
2. Trương Thị T9 đánh đề đài Miền N1 với số tiền là 1.176.000 đồng. Kết quả không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 1.176.000 đồng.
Lần đánh bạc trên của Trương Thị T9 với Trần Thanh T dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng xử lý hình sự và T9 chưa chuyển tiền đánh bạc cho T.
Tổng cộng Trần Thanh T đánh bạc với Thái Văn T2, Trương Thị T9 với số tiền đài Miền B3 là 23.150.000 đồng, đài M2 là 48.475.000 đồng, đài M3 là 114.901.000 đồng, T thua nên không hưởng lợi.
* Về hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, Thái Văn T2 đánh với những người sau:
1. Nguyễn Văn  trực tiếp đánh đề đài An Giang với số tiền là 240.000 đồng. Kết quả không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 240.000 đồng.
Lần đánh bạc trên của Nguyễn Văn  với Thái Văn T2 dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng xử lý hình sự và  chưa chuyển tiền đánh bạc cho T2.
2. Trương Thị H3 ghi số đề của người chơi rồi chuyển cho Thái Văn T2, gồm:
Số tiền cá cược đài Miền B3 là 4.106.000 đồng, tiền trúng thưởng là 400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền B3 là 4.506.000 đồng.
Số tiền cá cược đài Miền T15 là 1.842.000 đồng, tiền trúng thưởng 630.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền T15 là 2.472.000 đồng,
Số tiền cá cược đài Miền Nam là 456.000 đồng. Kết quả không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc đài Miền Nam là 456.000 đồng.
03 lần đánh bạc trên của Trương Thị H3 với Thái Văn T2 (đánh đài Miền B3, M, M) đều dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng xử lý hình sự. Tổng số tiền H3 ghi đề được là 6.404.000 đồng, số tiền này H3 chưa chuyển cho T2 và chưa nhận tiền hoa hồng.
3. Nguyễn Thị Huyền T4 ghi đề của người chơi rồi chuyển cho Thái Văn T2, gồm:
Số tiền cá cược đài Miền B3 là 8.205.000 đồng, tiền trúng thưởng là 3.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền B3 là 11.405.000 đồng.
Số tiền cá cược đài Miền T15 là 6.750.000 đồng, tiền trúng thưởng là 11.900.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền T15 là 18.650.000 đồng.
Số tiền cá cược đài Miền N1 là 2.350.000 đồng, tiền trúng thưởng là 7.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài M2 là 9.350.000 đồng.
Trong tổng số tiền của các đài trên, Cơ quan điều tra xác định được Lê Hồng T12 đánh đài Miền Bắc 670.000 đồng, đài M3 1.335.000 đồng, đài Miền Nam 1.335.000 đồng, T12 không trúng số nào.
03 lần đánh bạc trên của Nguyễn Thị Huyền T4 với Thái Văn T2 (đánh đài Miền B3, M, M) đều trên 5.000.000 đồng, đủ định lượng xử lý hình sự. Tổng số tiền T4 ghi đề được là 17.305.000 đồng, số tiền này T4 đã chuyển cho T2 và nhận 5.191.500 đồng tiền hoa hồng (cách tính 17.305.000 đồng x 30%). Còn những lần đánh bạc của Lê Hồng T12 đều dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng xử lý hình sự.
4. Bùi Thị Mỹ L2 ghi đề của người chơi rồi chuyển cho Thái Văn T2, gồm:
Số tiền cá cược đài Miền B3 là 7.766.000 đồng, tiền trúng thưởng là 6.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền B3 là 13.766.000 đồng.
Số tiền cá cược đài Miền T15 là 6.504.000 đồng, tiền trúng thưởng là 3.850.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền T15 là 10.354.000 đồng.
Số tiền cá cược đài Miền N1 là 5.400.000 đồng, tiền trúng thưởng là 5.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài M2 là 11.000.000 đồng.
03 lần đánh bạc trên của Bùi Thị Mỹ L2 với Thái Văn T2 (đánh đài Miền B3, M, M) đều trên 5.000.000 đồng, đủ định lượng xử lý hình sự. Tổng số tiền L2 ghi đề được là 19.670.000 đồng, số tiền này L2 đã chuyển cho T2 và nhận 1.967.000 đồng tiền hoa hồng (cách tính 19.670.000 đồng x 10% ).
Tổng cộng Thái Văn T2 đánh bạc với Nguyễn Văn Â, Trương Thị H3, Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2 với tổng số tiền đài Miền B3 là 29.677.000 đồng; đài Miền T15 là 31.476.000 đồng; đài M2 là 21.046.000 đồng. T2 chưa nhận tiền ghi đề và chi tiền hoa hồng cho Nguyễn Văn Â, Trương Thị H3 nhưng đã nhận tiền ghi đề và chi tiền hoa hồng cho Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2 để T4, L2 chung chi cho những người đánh đề. Hiện Trương Thị H3 còn giữ 6.404.000 đồng, Nguyễn Thị Huyền T4 giữ 5.191.500 đồng tiền hoa hồng, Bùi Thị Mỹ L2 giữ 1.967.000 đồng tiền hoa hồng
Như vậy, ngày 14/9/2023 Trần Thanh T, Thái Văn T2, Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2 đã 03 lần đánh bạc (01 lần đài Miền Bắc, 01 lần đài M, 01 lần đài M). Số tiền đánh bạc mỗi lần, mỗi người là:
Trần Thanh T đánh bạc đài Miền Bắc 23.150.000 đồng, đài M3 114.901.000 đồng, đài M2 48.475.000.000 đồng và thua, không hưởng lợi.
Thái Văn T2 đánh bạc đài M1 là 52.827.000 đồng; số tiền đài Miền T15 là 145.201.000 đồng; đài Miền Nam là 69.521.000 đồng. T2 hưởng lợi 23.897.500 đồng.
Nguyễn Thị Huyền T4 đánh bạc đài Miền Bắc 11.405.000 đồng, đài M3 18.650.000 đồng, đài Miền Nam 9.350.000 đồng và hưởng 5.191.500 đồng tiền hoa hồng.
Bùi Thị Mỹ L2 đánh bạc đài Miền Bắc 13.766.000 đồng, đài M3 10.354.000 đồng, đài Miền Nam 11.000.000 đồng và hưởng 1.967.000 đồng tiền hoa hồng
Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo Thái Văn T2 còn khai nhận, trong khoảng tháng 5 và 6 năm 2023 có đánh đề với Phan Văn H2, Lê Thị V nhưng đã xóa toàn bộ dữ liệu liên quan đến hành vi đánh bạc nên không có căn cứ xử lý hành vi này. Ngày 13/9/2023 bị cáo T2 đánh đề với Nguyễn Văn  với số tiền 300.000 đồng nên không đủ định lượng xử lý hình sự.
* Về hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá, Trần Thanh T cá độ với:
1. Đặng Ngọc B2, cụ thể:
Trận đấu giữa đội Melbourne K và đội H5 thuộc Cup quốc gia A4 bắt đầu lúc 16h30 ngày 14/9/2023. B2 cá cược tổng cộng 9.000.000 đồng. Kết quả B2 thua 9.000.000 đồng. Tổng số tiền mà B2 đánh bạc trong trận đấu này là 9.000.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Melbourne C2 và đội N3 thuộc Cup quốc gia A4 bắt đầu lúc 16h30 ngày 14/9/2023. B2 cá cược tổng cộng 7.500.000 đồng. Kết quả B2 thắng 3.125.000 đồng. Tổng số tiền B2 đánh bạc trong trận đấu này là 10.625.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Amkar P và đội C4 thuộc Cup quốc gia N4 bắt đầu lúc 20h30 ngày 14/9/2023. B2 cá cược 1.500.000 đồng, kết quả B2 thua 1.500.000 đồng. Tổng số tiền B2 đánh bạc trong trận đấu này là 1.500.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A1 và đội A5 thuộc Cup liên đoàn UAE bắt đầu lúc 22 giờ 30 ngày 14/9/2023. B2 cá cược 500.000 đồng, kết quả B2 thua 500.000 đồng. Tổng số tiền B2 đánh bạc trong trận đấu này là 500.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A2 và đội A6 thuộc giải vô địch Ả rập xê út bắt đầu lúc 22h00 ngày 14/9/2023. B2 cá cược 3.500.000 đồng, kết quả B2 thua 3.500.000 đồng. Tổng số tiền B2 đánh bạc trong trận đấu này là 3.500.000 đồng.
Trận đấu giữa đội B4 và đội G thuộc Cup quốc gia B6 bắt đầu lúc 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2023. B2 cá cược tổng cộng 2.000.000 đồng, kết quả B2 thắng 1.000.000 đồng. Tổng số tiền B2 đánh bạc trong trận đấu này là 3.000.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Leones N2 và đội CSyD Dorados de S thuộc Cup quốc gia M4 bắt đầu lúc 8 giờ 15 phút ngày 15/9/2023. B2 cá cược tổng cộng 1.000.000 đồng, kết quả B2 thắng 800.000 đồng. Tổng số tiền B2 đánh bạc trong trận đấu này là 1.800.000 đồng.
2. Lương Ngọc T10, cụ thể:
Trận đấu giữa đội M và đội N3 thuộc Cup quốc gia A4 bắt đầu lúc 16h30 ngày 14/9/2023. T10 cá cược 2.500.000 đồng. Kết quả Tân hòa. Như vậy tổng số tiền T10 đánh bạc trong trận đấu này là 2.500.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A2 và đội A6 thuộc giải vô địch Ả rập xê út bắt đầu lúc 22h00 ngày 14/9/2023. T10 cá cược 1.300.000 đồng. Kết quả Tân thắng 1.170.000 đồng. Tổng số tiền T10 đánh bạc trong trận đấu này là 2.470.000 đồng.
Trận đấu giữa đội H6 và đội K1 thuộc giải hạng nhất Đan Mạch bắt đầu lúc 00h00 ngày 15/9/2023. Tân cá cược tổng cộng 4.500.000 đồng. Kết quả Tân thua 4.500.000 đồng. Tổng số tiền T10 đánh bạc trong trận đấu này là 4.500.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Leones N2 và đội CSyD Dorados de S thuộc Cup quốc gia M4 bắt đầu lúc 8 giờ 15 phút ngày 15/9/2023. Tân cá cược 300.000 đồng, kết quả T10 thua 300.000 đồng. Tổng số tiền T10 đánh bạc trong trận đấu này là 300.000 đồng.
3. Nguyễn Xuân L3, cụ thể:
Trận đấu giữa đội M và đội N3 thuộc Cup quốc gia A4 bắt đầu lúc 16h30 ngày 14/9/2023. Lợi cá cược 1.000.000 đồng. Kết quả L3 thua 1.000.000 đồng. Tổng số tiền L3 đánh bạc trong trận đấu này là 1.000.000 đồng.
Trận đấu giữa đội A3 và đội C4 thuộc Cup quốc gia N4 bắt đầu lúc 20h30 ngày 14/9/2023. Lợi cá cược 1.000.000 đồng. Kết quả L3 thắng 900.000 đồng. Tổng số tiền L3 đánh bạc trong trận đấu này là 1.900.000 đồng.
Trận đấu giữa đội T16 và đội S1 thuộc giải vô địch Albania bắt đầu lúc 20h00 ngày 14/9/2023. Lợi cá cược 1.000.000 đồng. Kết quả L3 thua 1.000.000 đồng. Tổng số tiền L3 đánh bạc trong trận đấu này là 1.000.000 đồng.
4. Trần Ngọc T11, cụ thể:
Trận đấu giữa đội A7 và đội C4 thuộc Cup quốc gia N4 bắt đầu lúc 20h30 ngày 14/9/2023. T11 cá cược 1.000.000 đồng. Kết quả T11 thắng 450.000 đồng. Tổng số tiền T11 đánh bạc trong trận đấu này là 1.450.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A1 và đội A5 thuộc Cup liên đoàn UAE bắt đầu lúc 20 giờ 30 ngày 14/9/2023. B2 cá cược 500.000 đồng, kết quả B2 thắng 450.000 đồng. Tổng số tiền T11 đánh bạc trong trận đấu này là 950.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al W và đội D1 thuộc Cup liên đoàn UAE bắt đầu lúc 20h30 ngày 14/9/2023. T11 cá cược tổng cộng 1.000.000 đồng. Kết quả T11 thắng 450.000 đồng. Tổng số tiền T11 đánh bạc trong trận đấu này là 1.450.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al W1 và đội E thuộc Cup liên đoàn UAE bắt đầu lúc 20 giờ 30 ngày 14/9/2023. T11 cá cược tổng cộng 400.000 đồng, kết quả T11 thắng 340.000 đồng. Tổng số tiền T11 đánh bạc trong trận đấu này là 740.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A2 và đội A6 thuộc giải vô địch Ả rập xê út bắt đầu lúc 22h00 ngày 14/9/2023. T11 cá cược tổng cộng 400.000 đồng. Kết quả T11 thắng 380.000 đồng. Tổng số tiền T11 đánh bạc trong trận đấu này là 780.000 đồng.
Trận đấu giữa đội H6 và đội K1 thuộc giải hạng nhất Đan Mạch bắt đầu lúc 00h00 ngày 15/9/2023. T11 cá cược tổng cộng 400.000 đồng. Kết quả T11 thắng 180.000 đồng. Tổng số tiền T11 đánh bạc trong trận đấu này là 580.000 đồng.
5. Nguyễn Minh D, cụ thể:
Trận đấu giữa đội Melbourne K và đội H5 thuộc Cup quốc gia A4 bắt đầu lúc 16h30 ngày 14/9/2023. Dậu cá cược 1.000.000 đồng. Kết quả D thắng 900.000 đồng. Tổng số tiền mà D đánh bạc trong trận đấu này là 1.900.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Melbourne C2 và đội N3 thuộc Cup quốc gia A4 bắt đầu lúc 16h30 ngày 14/9/2023. Dậu cá cược tổng cộng 700.000 đồng. Kết quả D thắng 450.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 1.150.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A1 và đội A5 thuộc Cup liên đoàn UAE bắt đầu lúc 20 giờ 30 ngày 14/9/2023. Dậu cá cược tổng cộng 700.000 đồng, kết quả Dậu thắng 180.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 880.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al W1 và đội E thuộc Cup liên đoàn UAE bắt đầu lúc 20 giờ 30 ngày 14/9/2023. Dậu cá cược tổng cộng 400.000 đồng, kết quả Dậu thắng 180.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 580.000 đồng.
Trận đấu giữa đội A3 và đội C4 thuộc Cup quốc gia N4 bắt đầu lúc 20h30 ngày 14/9/2023. Dậu cá cược tổng cộng 400.000 đồng. Kết quả D thắng 360.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 760.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A2 và đội A6 thuộc giải Cup quốc gia Ả rập xê út bắt đầu lúc 22h00 ngày 14/9/2023. Dậu cá cược 200.000 đồng. Kết quả D thua 200.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 200.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Boyaca C3 và đội I1 thuộc giải vô địch Colombia bắt đầu lúc 7 giờ ngày 15/9/2023. Dậu cá cược tổng cộng 400.000 đồng. Kết quả D thua 400.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 400.000 đồng.
Trận đấu giữa đội B4 và đội G thuộc Cup quốc gia B6 bắt đầu lúc 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2023. Dậu cá cược tổng cộng 700.000 đồng, kết quả Dậu thắng 270.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 970.000 đồng.
Trận đấu giữa đội I và đội H7 thuộc giải vô địch quốc gia A8 bắt đầu lúc 7 giờ 30 ngày 15/9/2023. Dậu cá cược 200.000 đồng. Kết quả D thua 200.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 200.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Leones N2 và đội CSyD Dorados de S thuộc Cup quốc gia M4 bắt đầu lúc 8 giờ 15 phút ngày 15/9/2023. Dậu cá cược 300.000 đồng, kết quả D thắng 240.000 đồng. Tổng số tiền D đánh bạc trong trận đấu này là 540.000 đồng.
- Như vậy, ngày 14/9/2023 Trần Thanh T đã 05 lần đánh bạc và Đặng Ngọc B2 đã 02 lần đánh bạc bằng hình thức cá cược bóng đá (mỗi lần 01 trận trên 5.000.000 đồng, đủ định lượng xử lý hình sự) và chưa chung chi tiền, cụ thể:
Trận đấu giữa đội Melbourne K và đội H5: Đặng Ngọc Bình B2 đánh bạc với Trần Thanh T với số tiền 9.000.000 đồng. T đánh bạc với B2 và Nguyễn Minh D với tổng số tiền 10.900.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Melbourne C2 và đội N3: Đặng Ngọc B2 đánh bạc với Trần Thanh T với số tiền 10.625.000 đồng. T đánh bạc với B2, Lương Ngọc T10, Nguyễn Xuân L3 và Nguyễn Minh D với tổng số tiền 15.275.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Amkar P và đội C4: Trần Thanh T đánh bạc với Đặng Ngọc B2, Nguyễn Xuân L3, Trần Ngọc T11 và Nguyễn Minh D với tổng số tiền 5.610.000 đồng.
Trận đấu giữa đội Al A2 và đội A6: Trần Thanh T đánh bạc với Đặng Ngọc B2, Lương Ngọc T10, Trần Ngọc T11 và Nguyễn Minh D với tổng số tiền 6.950.000 đồng.
Trận đấu giữa đội H6 và đội K1: Trần Thanh T đánh bạc với Lương Ngọc T10, Trần Ngọc T11 với tổng số tiền 5.080.000 đồng.
Những trận còn lại các đối tượng cũng chưa chung chi tiền và đều đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng xử lý hình sự.
* Về hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá, Thái Văn T2 cá độ với Dương Văn M, Hồ Hữu C1: Vào các ngày từ 10/9/2023 đến ngày 15/9/2023 nhưng những lần cá độ này đều dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng xử lý hình sự.
Ngoài ra, Trần Thanh T, Thái Văn T2, Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2, còn khai nhận cá cược nhiều lần nữa nhưng không nhớ thời gian, số tiền, tiền hoa hồng được hưởng cụ thể nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý trong vụ án này.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu điện thoại, thẻ ATM không liên quan đến vụ án cho các chủ sở hữu.
Các vật chứng hiện còn tạm giữ gồm:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max bên trong có sim số 0971631468 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max bên trong có sim số 0937216266 và 0918216266 của Trần Thanh T;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 bên trong có sim số 0896.726.536; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 bên trong có sim số 0916.208.250 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max bên trong có sim số 0945.457.368 của Thái Văn T2;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max bên trong có sim số 0777.234.099 và 0937.703.739 của Nguyễn Thị Huyền T4;
- Số tiền 14.500.000 đồng tạm giữ của Trần Thanh T và 10.000.000 đồng tạm giữ của Thái Văn T2. Hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải quản lý theo phiếu ủy nhiệm chi số 148 ngày 27/5/2024 chuyển từ tài khoản tạm gửi của Công an huyện N số TK 3949.0.9056132 đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải số TK 3949.0.1047597 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện N.
- Số tiền 23.897.500 đồng tạm thu của Thái Văn T2 (do bà Thái Thị H4 nộp thay) để khắc phục hậu quả, theo biên lai thu tiền số 0000993 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
- Số tiền 5.191.500 đồng tạm thu của Nguyễn Thị Huyền T4 (do ông Nguyễn Minh B1 nộp thay) để khắc phục hậu quả, theo biên lai thu tiền số 0000995 ngày 15/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
- Số tiền 1.967.000 đồng tạm thu của Bùi Thị Mỹ L2 để khắc phục hậu quả, theo biên lai thu tiền số 0000994 ngày 15/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
Bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSNH ngày 11 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Thái Văn T2 để xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2 và Đặng Ngọc B2 để xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Ngọc B2 được áp dụng tình tiết người phạm tội tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và bổ sung cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo Trần Thanh T và Thái Văn T2 tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng khai báo các hành vi của các bị cáo khác để sớm kết thúc điều tra vụ án nên đề nghị áp dụng bổ sung thêm điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Thanh T có nộp bổ sung nhiều giấy biểu dương, ghi nhận và chứng nhận trong việc thực hiện thiện nguyện và có nhiều đóng góp trong thực hiện vận động xây dựng nông thôn mới tại địa phương và là lao động chính trong gia đình có xác nhận của địa phương, nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Thái Văn T2 tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và là lao động chính duy nhất của gia đình có xác nhận của địa phương, nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 và Bùi Thị Mỹ L2 tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2,3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 30 tháng đến 36 tháng cải tạo không giam giữ; nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/9/2023 đến ngày 25/4/2024 (223 ngày tạm giam tương ứng với 669 ngày cải tạo không giam giữ) và xử phạt tiền bổ sung từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm b khoản 2,3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Thái Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Thái Văn T2 từ 24 tháng đến 30 tháng cải tạo không giam giữ; nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/9/2023 đến ngày 25/4/2024 (223 ngày tạm giam tương ứng với 669 ngày cải tạo không giam giữ) và xử phạt tiền bổ sung từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ và xử phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ và xử phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc B2 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc B2 từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ và xử phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max bên trong có sim số 0971631468 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max bên trong có sim số 0937216266 và 0918216266 của Trần Thanh T; 01 điện thoại di động hiệu S2 A32 bên trong có sim số 0896.726.536, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 bên trong có sim số 0916.208.250 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max bên trong có sim số 0945.457.368 của Thái Văn T2; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max bên trong có sim số 0777.234.099 và 0937.703.739 của Nguyễn Thị Huyền T4 là công cụ phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 06 điện thoại, riêng các Sim số không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Thái Văn T2 nộp lại 23.897.500 đồng, Nguyễn Thị Huyền T4 nộp lại 5.191.500 đồng và Bùi Thị Mỹ L2 nộp lại 1.967.000 đồng là tiền thu lợi bất chính, để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 14.500.000 đồng của Trần Thanh T và 10.000.000 đồng của Thái Văn T2, hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải quản lý theo phiếu ủy nhiệm chi số 148 ngày 27/5/2024 và tiếp tục tạm giữ số tiền 23.897.500 đồng tạm thu của Thái Văn T2, số tiền 5.191.500 đồng tạm thu của Nguyễn Thị Huyền T4 và số tiền 1.967.000 đồng tạm thu của Bùi Thị Mỹ L2 để thi hành án.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu điện thoại, thẻ ATM vì không liên quan đến vụ án là phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét lại.
- Thái Văn L5 (con của Thái Văn T2), Ngô Trọng T6 (chồng của Bùi Thị Mỹ L2) và Huỳnh Xuân T13 không đồng phạm với Thái Văn T2, Bùi Thị Mỹ L2 và Trần Thanh T về hành vi đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
- Dương Văn M, Hồ Hữu C1, Lê Hồng T12, Trương Thị H3, Trương Thị T9, Nguyễn Văn Â, Lương Ngọc T10, Nguyễn Xuân L3, Trần Ngọc T11, Nguyễn Minh D có hành vi đánh bạc nhưng dưới 5.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự.
- Những đối tượng đánh bạc khác, do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể đánh bạc với T4 và L2 nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với lời khai trong quá trình điều tra và không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng có cùng nội dung: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm Trương Thị T9, Dương Văn M, Lê Hồng T12, Ngô Trọng T6 và Huỳnh Xuân T13 không lý do (chỉ có ông Ngô Trọng T6 có đơn xin vắng mặt). Xét thấy, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án và việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản kiểm tra giữ liệu điện tử; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/9/2023, trên địa bàn huyện N. Trần Thanh T đã 08 lần đánh bạc trái phép trên 5.000.000 đồng trong đó có 01 lần trên 50.000.000 đồng (gồm 03 lần đánh bạc dưới hình thức cá cược số đề, 05 lần đánh bạc dưới hình thức cá độ đá banh).Thái Văn T2 đã 03 lần đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược số đề trên 5.000.000 đồng trong đó có 01 lần trên 50.000.000 đồng và hưởng lợi 23.897.500 đồng. Nguyễn Thị Huyền T4 03 lần đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược số đề trên 5.000.000 đồng và hưởng lợi 5.191.500 đồng. Bùi Thị Mỹ L2 03 lần đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược số đề trên 5.000.000 đồng và hưởng lợi 1.967.000 đồng. Đặng Ngọc B2 02 lần đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược đá banh trên 5.000.000 đồng.
[4] Hành vi phạm tội trên của bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Thái Văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2 và Đặng Ngọc B2 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 29/CT-VKSNH ngày 11/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[5] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội gây ra. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý Nhà nước về trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; vì cờ bạc là tệ nạn xã hội, làm tiêu tán tài sản, kinh tế của nhiều gia đình, là một trong những nguyên nhân dẫn đến phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án tiền sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Qúa trình điều tra, xét hỏi tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Ngọc B2 tự thú về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Qúa trình điều tra bị cáo Trần thanh T17 và Thái Văn T2 tỏ ra hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng, khai báo hành vi phạm tội của các bị cáo khác để sớm kết thúc điều tra vụ án và xét xử, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Bị cáo Trần Thanh T có nộp bổ sung nhiều giấy ghi nhận, chứng nhận trong việc thực hiện thiện nguyện và có nhiều đóng góp trong thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh tại địa phương được Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện N, tỉnh Ninh Thuận biểu dương và bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Thái Văn T2 tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 23.897.500 đồng và là lao động chính duy nhất của gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 5.191.500 đồng và bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 1.967.000 đồng, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Thanh T và Thái Văn T2 có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét chuyển khung hình phạt.
[8] Đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ mang tính chất giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Tuy nhiên, từng bị cáo có nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau nên khi lượng hình cần thiết phải xem xét để xử một mức án tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với từng bị cáo gây ra, cụ thể:
Bị cáo Trần Thanh T tuy phạm tội 02 lần trở lên, nhưng đây mới lần đầu bị xử lý hình sự, bị cáo chưa thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Bản thân bị cáo là lao động chính của gia đình, có nhiều đóng góp trong công tác thiện nguyện, xây dựng nông thôn mới góp phần xây dựng quê hương, được Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện N, tỉnh Ninh Thuận và các tổ chức ghi nhận, biểu dương. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng; nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự, để tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương thì cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Qua đó, cũng thể hiện chính sách pháp luật Hình sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người biết ăn năn hối cải. Nhưng bên cạnh đó cũng cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, để răn đe và giáo dục bị cáo về sau.
Bị cáo Thái Văn T2 phạm tội 02 lần trở lên, nhưng đây mới lần đầu bị xử lý hình sự, số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội không lớn và đã tự giác nộp lại toàn bộ. Bản thân bị cáo là lao động chính duy nhất của gia đình được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng; nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự như bị cáo T và áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thì cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2, Đặng Ngọc B2 phạm tội 02 lần trở lên, nhưng các bị cáo cũng mới lần đầu bị xử lý hình sự, các lần phạm tội đều ít nghiêm trọng, số tiền thu lợi bất chính không lớn và đã tự nguyện nộp lại; bị cáo L2 còn nuôi con nhỏ và các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; nên xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Qua đó, cũng thể hiện chính sách pháp luật Hình sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người biết ăn năn hối cải. Nhưng cũng cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, để răn đe và giáo dục các bị cáo về ý thức tuân thủ pháp luật.
[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[9.1] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max bên trong có sim số 0971631468 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max bên trong có sim số 0937216266 và 0918216266 của Trần Thanh T; 01 điện thoại di động hiệu S2 A32 bên trong có sim số 0896.726.536, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 bên trong có sim số 0916.208.250 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max bên trong có sim số 0945.457.368 của Thái Văn T2; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max bên trong có sim số 0777.234.099 và 0937.703.739 của Nguyễn Thị Huyền T4 là công cụ dùng để phạm tội, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự tịch thu Sung vào Ngân sách nhà nước 06 điện thoại. Riêng các Sim số không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
[9.2] Đối với số tiền Thái Văn T2 thu lợi bất chính 23.897.500 đồng, Nguyễn Thị Huyền T4 thu lợi bất chính 5.191.500 đồng và Bùi Thị Mỹ L2 thu lợi bất chính 1.967.000 đồng, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự buộc các bị cáo nộp lại, để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo T2 đã tự nguyện nộp lại số tiền 23.897.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0000993 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, bị cáo T4 đã tự nguyện nộp lại số tiền 5.191.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0000995 ngày 15/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải và bị cáo L2 đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.967.000 theo biên lai thu tiền số 0000994 ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải; nên tiếp tục tạm giữ để thi hành án.
[9.3] Đối với số tiền 14.500.000 đồng tạm giữ của bị cáo Trần Thanh T và 10.000.000 đồng tạm giữ của bị cáo Thái Văn T2, hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải quản lý. Qúa trình điều tra đã có căn cứ xác định không liên quan đến việc đánh bạc; nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng tại mục [9.1] và tiền thu giữ, tạm thu tại mục [9.2] [9.3], Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2024 với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N; phiếu ủy nhiệm chi số 148 ngày 27/5/2024 chuyển từ tài khoản tạm gửi của Công an huyện N số TK 3949.0.9056132 đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải số TK 3949.0.1047597 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện N và các biên lai thu tiền số 0000993, 0000994, 0000995.
[9.4] Cơ quan điều tra còn tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu điện thoại, thẻ ATM vì không liên quan đến vụ án là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại như Kiểm sát viên đề nghị.
[10] Về vấn đề khác:
[10.1] Đối với Thái Văn L5 (con của Thái Văn T2), Ngô Trọng T6 (chồng của Bùi Thị Mỹ L2) và Huỳnh Xuân T13 không đồng phạm với Thái Văn T2, Bùi Thị Mỹ L2 và Trần Thanh T về hành vi đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[10.2] Đối với các đối tượng Dương Văn M, Hồ Hữu C1, Lê Hồng T12, Trương Thị H3, Trương Thị T9, Nguyễn Văn Â, Lương Ngọc T10, Nguyễn Xuân L3, Trần Ngọc T11, Nguyễn Minh D có hành vi đánh bạc nhưng dưới 5.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự là phù hợp.
Những đối tượng đánh bạc khác, do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể đánh bạc với T4 và L2 nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[11] Về án phí: Các bị cáo Trần Thanh T, Thái Văn T2, Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2 và Đặng Ngọc B2 là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[12] Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với các bị cáo, về xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Thái Văn T2.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T và bị cáo Thái Văn T2 phạm tội “Đánh bạc".
- Xử phạt bị cáo Trần Thanh Tuấn 3 (Ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Nhưng được khấu trừ thời giam bị tạm giữ, tạm giam 07 tháng 13 ngày (từ ngày 15/9/2023 đến ngày 25/4/2024), tương ứng 669 ngày (22 tháng 09 ngày) cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 13 (Mười ba) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Trần Thanh T 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Thái Văn T2 30 (Ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Nhưng được khấu trừ thời giam bị tạm giữ, tạm giam 07 tháng 13 ngày (từ ngày 15/9/2023 đến ngày 25/4/2024), tương ứng 669 ngày (22 tháng 09 ngày) cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 07 (B5) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Thái Văn T2 cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường V trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Thái Văn T2 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 và bị cáo Bùi Thị Mỹ L2.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 và bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Ngọc B2.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc B2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc B2 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Đặng Ngọc B2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Đặng Ngọc B2 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Buộc bị cáo Thái Văn T2 nộp lại 23.897.500 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 nộp lại 5.191.500 đồng và bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 nộp lại 1.967.000 đồng là tiền thu lợi bất chính, để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max của bị cáo Trần Thanh T; 02 điện thoại di động hiệu S2 A32 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max của bị cáo Thái Văn T2; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max của bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4.
- Tịch thu tiêu hủy: Các Sim điện thoại số 0971.631.xxx, 0937216266, 0918216266, 0896.726.536, 0916.208.250, 0777.234.099, 0937.703.739 ( bên trong các điện thoại bị tịch thu sung ngân sách Nhà nước nêu trên).
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 14.500.000 đồng của bị cáo Trần Thanh T và 10.000.000 đồng của bị cáo Thái Văn T2, hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải quản lý theo phiếu ủy nhiệm chi số 148 ngày 27/5/2024 và tiếp tục tạm giữ số tiền 23.897.500 đồng tạm thu của bị cáo Thái Văn T2, số tiền 5.191.500 đồng tạm thu của bị cáo Nguyễn Thị Huyền T4 và số tiền 1.967.000 đồng tạm thu của bị cáo Bùi Thị Mỹ L2 để thi hành án.
- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 55.556.000 đồng (Năm mươi lăm triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng) đang quản lý theo phiếu ủy nhiệm chi số 148 ngày 27/5/2024 chuyển từ tài khoản tạm gửi của Công an huyện N số TK 3949.0.9056132 đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải số TK 3949.0.1047597 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện N và số tiền bị cáo T2, bị cáo T4, bị cáo L2 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải theo các biên lai thu tiền số 0000993 ngày 13/5/2024, số 0000994 ngày 14/5/2024, số 0000995 ngày 15/5/2024 và vật chứng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2024 với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Trần Thanh T, Thái Văn T2, Nguyễn Thị Huyền T4, Bùi Thị Mỹ L2 và Đặng Ngọc B2 mỗi người phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nghiêm |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo T 36 tháng cải tạo không giam giữ
