|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày 30-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hường.
2. Bà Tưởng Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. HÀ VĂN D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27/4/1987 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Thôn B, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; Đảng, đoàn thể: Không; tôn giáo: Không; con ông Hà Văn M, sinh năm 1947 và bà Hoàng Thị N (đã chết); anh chị em ruột: có 06 người, bị cáo là thứ năm; vợ: Hoàng Thị N1, sinh năm 1987; con: có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012.
- Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
2. BÙI THANH T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/8/1980 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Đảng, đoàn thể: Không; Tôn giáo: Không; con ông Bùi Dũng T (đã chết) và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1960; anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ nhất; vợ: Ma Thị M1, sinh năm 1975; con: có 01 con, sinh năm 2010.
- Tiền án: Bản án số 28/2020/HSST ngày 02/6/2020 của TAND huyện Chiêm Hóa xử phạt Bùi Thanh T1 01 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", 02 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 03 tháng tù.
- Nhân thân, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (Có mặt).
3. LÂM TRUNG N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/4/1981 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú, chỗ ở: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh; Đảng, đoàn thể: Không; tôn giáo: Không; con ông Lâm Ngọc L, sinh năm 1950 và bà Lê Thị V, sinh năm 1952; anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là thứ hai; vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981; con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017.
- Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ma Thị M1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 13/12/2023 Hà Văn D, trú tại thôn B, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số thuê bao di động 0366.676081 của Bùi Thanh T1, trú tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang gọi đến số thuê bao di động 0982.905.423 của mình, T1 nói với D “Anh muốn lấy hàng, lấy cho anh mười tám triệu nhé” (ý T1 hỏi D mua 18.000.000 đồng Heroine), D đồng ý. Khoảng 10 phút sau, D gọi điện lại cho T1 nói “Giá dạo này lên cao quá, anh lấy cho em thêm bảy triệu nữa nhé, như thế mới vào công” (ý D bảo T1 thêm 7.000.000 đồng để mua Heroine), T1 đồng ý và hẹn gặp ở khu vực nhà ở của D.
Sau khi trao đổi việc mua Heroine với T1 xong, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 21L1-202.47 (xe D mượn của bà Hoàng Thị N1 trú cùng địa chỉ) đi đến khu vực huyện T, tỉnh Yên Bái để tìm mua Heroine về bán cho T1. Khi đến nơi (không nhớ địa chỉ cụ thể) D mua được 01 gói Heroine có đặc điểm (bên ngoài gói bằng túi nilon màu trắng có rãnh khóa, mép túi có viền màu đỏ, bên trong chứa Heroine ở dạng bột vón cục màu trắng), với giá 21.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Mua được Heroine, D đi về nhà. Khoảng 19 giờ cùng ngày, D gọi điện và hẹn gặp T1 ở đoạn đường gần nhà ở của D. Sau đó T1
đến địa điểm hẹn gặp D, T1 đưa cho D số tiền 25.000.000 đồng, D cầm tiền và đưa cho T1 01 gói Heroine (có đặc điểm nêu trên). Mua được Heroine, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 22B2-082.93 (xe của T1) đi về nhà. Trên đường về, T1 đi vào chỗ vắng người lấy gói Heroine san ra một phần để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, số Heroine còn lại T1 cất giấu ở trên người rồi tiếp tục đi về nhà và cất giấu gói Heroine vào bên trong chiếc túi vải màu nâu, treo ở vách nhà kho của mình mục đích để bán kiếm lời.
Khoảng 20 giờ, ngày 15/12/2023 T1 đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ số thuê bao di động 0984.425.092 của Lâm Trung N, trú tại tổ V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang gọi đến số thuê bao di động 0366.676.081 của mình hỏi mua 1.000.000 đồng Heroine, T1 đồng ý. Sau đó N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAKEUP, biển số 19L4-1850 đi đến nhà T1, N đưa cho T1 số tiền 1.000.000 đồng, T1 cầm tiền và đi ra nhà kho lấy gói Heroine san ra một phần cho vào tờ lịch rồi gói lại; số Heroine còn lại T1 để vào vị trí ban đầu. Sau đó T1 cầm gói Heroine (gói bằng tờ lịch) đưa cho N. Mua được Heroine, trên đường về N đã sử dụng hết một phần bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số Heroine còn lại N lấy vỏ nilon của bơm kim tiêm gói lại cất giấu trên người. Khi N về đến khu vực tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm vụ, nghi N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Tổ công tác đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện C để làm việc. Quá trình làm việc, N khai mua Heroine của Bùi Thanh T1 mục đích để sử dụng và tự giác giao nộp 01 gói Heroine có đặc điểm nêu trên; Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Hồi 08 giờ, ngày 16/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Bùi Thanh T1 tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình khám xét đã phát hiện thu giữ bên trong túi vải màu nâu treo trên tường phía bên trái cửa nhà kho 01 gói ni lông màu trắng có rãnh khóa, mép túi có viền màu đỏ, trong cùng chứa Heroine ở dạng bột vón cục màu trắng. T1 khai nguồn gốc số Heroine mua của Hà Văn D, tàng trữ mục đích để bán.
Hồi 16 giờ 45 phút, ngày 17/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Hà Văn D tại thôn B, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Quá trình làm việc Hà Văn D đã tự giác giao nộp 01 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, 01 mẩu ống nhựa màu đỏ được hàn kín hai đầu, bên trong đều chứa Heroine ở dạng bột vón cục màu trắng. Nguồn gốc số Heroine trên, D khai mua vào ngày 16/12/2023 của một người không quen biết tại khu vực xã P, huyện T, tỉnh Yên Bái với giá 370.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân.
Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với: Bùi Thanh T1, Lâm Trung N, Hà Văn D, kết quả: (+) dương tính, đều có chất ma túy trong cơ thể của D, T1, N.Kết luận giám định số 24/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Lâm Trung N gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,159g (không phẩy một năm chín gam).
Kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Hà Văn D gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,290g (không phẩy hai chín mươi gam).
Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Bùi Thanh T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 21,287g (hai mốt phẩy hai tám bảy gam).
Cáo trạng số 21/CT-VKSCH, ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo:
Hà Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bùi Thanh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Lâm Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, không phát sinh tình tiết mới; kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang luận tội giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bùi Thanh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Lâm Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn D từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hà Văn D phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2023.
Áp dụng điểm i khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T1 từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Trung N từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023.
- Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo Bùi Thanh T1 tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời, nên phạt tiền bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Bị cáo Hà Văn D tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời, tuy nhiên bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, không có tài sản có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Lâm Trung N tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy:
01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lâm Trung N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Lâm Trung N, giám định ngày 16/12/2023.
01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Bùi Thanh T1, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Bùi Thanh T1, giám định ngày 18/12/2023.
01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Hà Văn D, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Hà Văn D, giám định ngày 18/12/2023.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số sê ri 1: 355752102904007; Số sê-ri 2: 355752104904005, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ sim số 0982.905.423 của Hà Văn D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, số IMEL 1: 355220709144229, số IMEL 2: 355220709144237, số IMEL 3: 355220709144237, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ sim số 0366.676.081 của Bùi Thanh T1.
Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu bạc, số sê-ri: C37QJ4EPGRWF, số sê-ri: 8984048000301824855 kèm thẻ sim số 0984.425.092; 01 xe mô tô nhãn hiệu WAKEUP loại xe nữ, biển số 19L4-1850, màu xanh, số máy E3T6E218706, số khung CHL 81027839, xe cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Lâm Trung N nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SURIUS, biển số 22B2-082.93, số máy: E3T6E218706, số khung: 1710HY147892, xe cũ đã qua sử dụng đăng ký xe mang tên Bùi Thanh T1. Bị cáo và bà Ma Thị M1 xác định xe mô tô là tài sản riêng của bà M1, việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma túy bà M1 không biết, tại phiên
tòa bà M1 đề nghị xin lại xe mô tô, do vậy cần trả lại xe mô tô nêu trên cho bà Ma Thị M1.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Hà Văn D số tiền 25.000.000 đồng có được do bán ma túy cho Bùi Thanh T1 và của bị cáo Bùi Thanh T1 số tiền 1.000.000 đồng có được do bán ma túy cho Lâm Trung N2.
Về vấn đề khác:
- Đối với bà Hoàng Thị N1 trú tại thôn B, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái không biết Hà Văn D sử dụng xe mô tô của mình thực hiện hành vi phạm tội, bà Ma Thị M1 không biết Bùi Thanh T1 sử dụng mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 22B2-082.93 thực hiện hành vi phạm tội, nên không đề cập xử lý.
- Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Thanh T1, Hà Văn D, Lâm Trung N, ngày 10/4/2024 Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, nên không đề nghị xem xét.
- Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Hà Văn D, quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét, giải quyết.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ma Thị M1 trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 22B2-082.93, giấy đăng ký xe mang tên Bùi Thanh T1 là tài sản riêng của bà M1 (số tiền mua xe là tiền riêng của bà M1). Ngày 13/12/2023 Bùi Thanh T1 sử dụng xe mô tô đi mua ma túy bà M1 không biết, bà M1 đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe mô tô nêu trên cho bà.
Kết thúc phần tranh luận các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Hà Văn D, Bùi Thanh T1, Lâm Trung N2 thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,
phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Hà Văn D đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và hành vi tàng trữ trái phép cụ thể như sau:
+ Khoảng 19 giờ ngày 13/12/2023, tại khu vực thôn B, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, Hà Văn D đã có hành vi bán trái phép 21,446 gam Heroine (gồm số Heroine thu giữ tại nhà Bùi Thanh T1 và số Heroine thu giữ của Lâm Trung N) cho Bùi Thanh T1, trú tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang với giá 25.000.000 đồng.
+ Hồi 16 giờ 45 phút ngày 17/12/2023, tại nhà ở của mình tại thôn B, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, Hà Văn D còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,290 gam Heroine mục đích để sử dụng.
Bùi Thanh T1 đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
+ Khoảng 20 giờ, ngày 15/12/2023, tại nhà ở của mình Bùi Thanh T1 đã có hành vi bán trái phép 0,159 gam Heroine cho Lâm Trung N, trú tại tổ V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang với giá 1.000.000 đồng.
+ Khoảng 08 giờ, ngày 16/12/2023, tại nhà ở của mình, Bùi Thanh T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 21,287 gam Heroine mục đích để bán.
Lâm Trung N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cụ thể như sau: Hồi 22 giờ 20 phút, ngày 15/12/2023, tại tổ V, thị trấn V, huyện C, Lâm Trung N2 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,159 gam Heroine mục đích để sử dụng.
Như vậy hành vi của bị cáo Hà Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Bùi Thanh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lâm Trung N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 28/2020/HSST ngày 02/6/2020 của TAND huyện Chiêm Hóa xử phạt Bùi Thanh T1 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 03 tháng tù. Do đó bị cáo Bùi Thanh T1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Hà Văn D và Lâm Trung N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Thanh T1 bị mắc bệnh AIDS nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo D, T1, N là người có đầy đủ năng lực nhận thức, các bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc gia đình còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.
Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Hà Văn D, Bùi Thanh T1, Lâm Trung N được thực hiện độc lập, không liên quan đến nhau. Bị cáo Bùi Thanh T1 có 01 tiền án: Bản án số 28/2020/HSST ngày 02/6/2020 của TAND huyện Chiêm Hóa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", 02 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Bùi Thanh T1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 năm 03 tháng tù.
Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử thấy rằng nội dung buộc tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai. Do vậy căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt tù và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung, xử phạt các bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Bùi Thanh T1 bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời, do vậy căn cứ Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung đối với bị cáo trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Bị cáo Hà Văn D bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời nhưng do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Lâm Trung N tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đính sử dụng, không có mục đích vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số Heroine thu giữ của các bị cáo Hà Văn D, Bùi Thanh T1, Lâm Trung N đã được niêm phong là vật chứng vụ án, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số sê ri 1: 355752102904007; số sê-ri 2: 355752104904005, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ sim số 0982.905.423 của Hà Văn D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, số IMEL 1: 355220709144229, số IMEL 2: 355220709144237, số IMEL 3: 355220709144237, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ sim số 0366.676.081 của Bùi Thanh T1, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Lâm Trung N 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu bạc, số sê-ri: C37QJ4EPGRWF, số sê-ri: 8984048000301824855 kèm thẻ sim số 0984.425.092; 01 xe mô tô nhãn hiệu WAKEUP loại xe nữ, biển số 19L4-1850, màu xanh, số máy E3T6E218706, số khung CHL 81027839, xe cũ đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với mô tô nhãn hiệu 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SURIUS, biển số 22B2-082.93, số máy: E3T6E218706, số khung: 1710HY147892 xe cũ đã qua sử dụng, giấy đăng ký xe mang tên Bùi Thanh T1, bị cáo T1 sử dụng để đi mua ma túy về bán, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được xe mô tô là tài sản riêng của bà Ma Thị M1, việc bị cáo T1 sử dụng vào việc phạm tội bà M1 không biết và bà M1 đề nghị trả lại xe mô tô nêu trên. Xét thấy xe mô tô nêu trên tài sản riêng của bà M1, do vậy cần trả lại cho bà Ma Thị M1.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Hà Văn D số tiền 25.000.000 đồng có được do bán ma túy cho Bùi Thanh T1; bị cáo Bùi Thanh T1 số tiền 1.000.000 đồng có được do bán ma túy cho Lâm Trung N.
[7] Về vấn đề khác:
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Thanh T1, Hà Văn D, Lâm Trung N, ngày 10/4/2024 Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, nên không đề cập xử lý.
Đối với bà Hoàng Thị N1 trú tại thôn B, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái không biết Hà Văn D sử dụng xe mô tô của mình thực hiện hành vi phạm tội và Ma Thị M1 không biết Bùi Thanh T1 sử dụng mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 22B2-082.93 thực hiện hành vi phạm tội, nên không đề cập xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Hà Văn D, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên cụ thể nên không có căn cứ để xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Bùi Thanh T1, Lâm Trung N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Hà Văn D thuộc diện hộ cận nghèo, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí, do vậy bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Hà Văn D, Bùi Thanh T1, Lâm Trung N; người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Bùi Thanh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lâm Trung N2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn D 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn D 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hà Văn D phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2023.
Căn cứ điểm i khoản 2 và khoản 5 Điều 251; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thanh T1 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2023.
Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là 5.000.000 đồng.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lâm Trung N 01 năm 01 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2023.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy:
01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lâm Trung N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Lâm Trung N, giám định ngày 16/12/2023.
01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Bùi Thanh T1, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Bùi Thanh T1, giám định ngày 18/12/2023.
01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Hà Văn D, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Hà Văn D, giám định ngày 18/12/2023.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số sê ri 1: 355752102904007; Số sê-ri 2: 355752104904005, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ sim số 0982.905.423 của Hà Văn D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, số IMEL 1: 355220709144229, số IMEL 2: 355220709144237, số IMEL 3: 355220709144237, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ sim số 0366.676.081 của Bùi Thanh T1.
Trả lại cho bị cáo Lâm Trung N 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS, màu bạc, số sê-ri: C37QJ4EPGRWF, số sê-ri: 8984048000301824855 kèm thẻ sim số 0984.425.092; 01 xe mô tô nhãn hiệu WAKEUP loại xe nữ, biển số 19L4-1850, màu xanh, số máy E3T6E218706, số khung CHL 81027839, xe cũ đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bà Ma Thị M1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SURIUS, biển số 22B2-082.93, số máy: E3T6E218706, số khung: 1710HY147892 xe cũ đã qua sử dụng.
Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 28 tháng 5 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.
Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 25.000.000 đồng của bị cáo Hà Văn D; của bị cáo Bùi Thanh T1 số tiền 1.000.000 đồng.
- Về án phí. Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Hà Văn D, Bùi Thanh T1, Lâm Trung N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Huệ |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 25 Hà Vặn D, Lâm Trung N, Bùi Thanh T1 pham tội "Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy""
