TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 25/2024/KDTM-ST Ngày: 29 – 7 – 2024 Tr/c HĐ kinh tế - mua bán hàng hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Hậu – Bà Hồ Thị Kim Liên
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 26/2024/TLST-KDTM ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng kinh tế - mua bán hàng hóa”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 399/2024/QĐXXST-KDTM ngày 14/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 400/2024/QĐST-KDTM ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:
- · Nguyên đơn: Công ty TNHH Một Thành Viên Đ1; (sau đây viết tắt là công ty Đ1)
- Địa chỉ: Số G, đường Đ, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. SĐT: 0948.545.xxx.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim T. Có mặt
- · Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ2; (sau đây viết tắt là công ty Đ2). Vắng mặt
- Địa chỉ: Số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0898.435.xxx - 0906.432.858
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim P. vắng mặt
- Địa chỉ thường trú: số H, Trần Hưng Đ, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- - Nguyên đơn Công ty TNHH MTV Đ1 trình bày:
Vào ngày 19/8/2022, Công ty TNHH MTV Đ1 có ký hợp đồng số 19.08.2022/HĐKT/TA – HPSG với Công ty cổ phần Đ2 về việc mua bán cát san lấp nước mặn, lợ phục vụ thi công Gói thầu cung cấp san lấp cho dự án Đảo D, P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, vào ngày 25/8/2022 Công ty TNHH MTV Đ1 đã tạm ứng số tiền cọc mua cát cho công ty Đ2 với số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), hình thức: chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của công ty Đ2 theo hợp đồng và đơn đề nghị tạm ứng kiêm cam kết số 19.98/CVĐNTU/HPSG – 2022 ngày 19/8/2022.
Tuy nhiên, sau khi Công ty Đ1 đã tạm ứng số tiền cọc mua cát cho Công Ty Đ2 nhưng phía Công ty Đ2 không thực hiện giao cát cho Công Ty Đ1 theo thỏa thuận. Sau nhiều lần liên hệ thông báo để yêu cầu Công ty Đ2 thực hiện hợp đồng nhưng không nhận được sự hợp tác từ phía Công ty Đ2.
Do công ty Đ2 vi phạm hợp đồng nên nay công ty Đ1 khởi kiện yêu cầu công ty H số tiền:
- - Số tiền gốc tạm ứng: 200.000.000 đ (hai trăm triệu đồng);
- - Số tiền phạt theo thỏa thuận: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng);
- - Số tiền bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận: 4.000.000đ (bốn triệu đồng);
- Tổng cộng: 404.000.000đ (bốn trăm lẻ bốn triệu đồng).
Án phí kinh doanh thương mại: theo quy định pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn công ty CP Đ2 vắng mặt không tham gia phiên họp và không gửi tự khai trình bày ý kiến do đó không ghi nhận được ý kiến của công ty.
- Tại phiên tòa:
Nguyên đơn công ty Đ1 trình bày: xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, công ty Đ2 trả cho công ty Đ1 số tiền 404.000.000đ (bốn trăm lẻ bốn triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng:
- [1.1] Về thẩm quyền giải quyết: công ty Đ1 khởi kiện về tranh chấp hợp đồng kinh tế đối với Công ty Đ2, theo đó công ty Đ2 có trụ sở tại thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại Điều 30, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [1.2] Về thủ tục tố tụng: Công ty Đ2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng công ty Đ2 vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt công ty Đ2 là phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- [2] Về nội dung giải quyết vụ án:
- [2.1] Toà án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như thông báo kết quả phiên họp cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để Công ty Đ2 thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ của nguyên đơn. Tuy nhiên Công ty Đ2 vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như Công ty Đ2 tự từ bỏ quyền lợi cũng như không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ để giải quyết vụ án.
- [2.2] Căn cứ vào Hợp đồng kinh tế số 19.08.2022/HĐKT/TA-HPSG ngày 19/8/2022 được ký kết giữa công ty Đ1 và công ty Đ2 và văn bản Đề nghị tạm ứng kiêm cam kết số 19.08/CVĐNTU/HPSG-2022 ngày 19/8/2022 cho thấy hai công ty đã xác lập hợp đồng kinh tế với nội dung mua bán cát đắp nền, việc xác lập này là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 24 Luật Thương Mại 2005 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo như hợp đồng đã ký kết.
- [2.3] Theo điểm 2.2 Điều 2 của Hợp đồng kinh tế số 19.08.2022/HĐKT/TA-HPSG ngày 19/8/2022 được ký kết giữa công ty Đ1 và công ty Đ2 có thỏa thuận “Ngay sau khi ký hợp đồng, bên A sẽ tạm ứng tiền cọc mua cát cho bên B số tiền 200.000.000 VNĐ (hai trăm triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bên B đã được ghi trong hợp đồng để đảm bảo mua cát.” Trong vòng 48 giờ sau khi nhận tiền cọc thì công ty Đ2 phải chuyển 01 sà lan cát đầu tiên cung cấp theo hợp đồng. Đồng thời, theo văn bản đề nghị tạm ứng kiêm cam kết số 19.08/CVĐNTU/HPSG-2022 ngày 19/8/2022, công ty Đ2 yêu cầu công ty Đ1 tạm ứng số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) và cam kết trường hợp không giao hàng như Điều 2 của hợp đồng sẽ chịu phạt 100% tổng giá trị tạm ứng, tương đương số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng).
- [2.4] Theo đó, công ty Đ1 đã thực hiện đúng như thỏa thuận, ngày 25/8/2022 đã chuyển khoản số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) vào số tài khoản 060223363485 của công ty Đ2 (số tài khoản ghi trong hợp đồng) thể hiện tại số phụ kiêm phiếu báo nợ, báo có của Phòng G chi nhánh S ngân hàng TMCP V ngày 01/7/2024. Tuy nhiên, phía công ty Đ2 đã không thực hiện nghĩa vụ giao sà lan cát như thỏa thuận là vi phạm hợp đồng theo Điều 34, Điều 37 Luật Thương mại 2005, làm ảnh hưởng quyền lợi của công ty Đ1. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty Đ1, buộc công ty Đ2 có nghĩa vụ trả cho công ty Đ1 số tiền tạm ứng (đặt cọc) 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) và số tiền phạt cọc 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).
- [2.5] Về yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng 4.000.000đ (bốn triệu đồng), xét thấy tại điểm 6.2 Điều 6 hợp đồng có thỏa thuận mức phạt vi phạm là 2% tổng giá trị hợp đồng (mức thỏa thuận này phù hợp với quy định pháp luật không vượt quá 8%), theo đó tổng giá trị hợp đồng là 94.000.000.000đ (chín mươi bốn tỷ đồng) tuy nhiên nguyên đơn chỉ yêu cầu 2% trên số tiền tạm ứng là phù hợp với thỏa thuận và có lợi cho phía bị đơn. Xét thấy yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 4.000.000 đồng của nguyên đơn có cơ sở, căn cứ vào Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 300, Điều 301 Luật Thương mại 2005 và án lệ 09/2016, Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc công ty Đ2 có nghĩa vụ trả cho công ty Đ1 số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Tổng số tiền công ty Đ2 có nghĩa vụ trả cho công ty Đ1 là: 200.000.000đ + 200.000.000đ + 4.000.000đ = 404.000.000 đồng.
[2.6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận do đó công ty Đ1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp cho công ty Đ1. Công ty Đ2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 328, Điều 418, Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 24, Điều 34, Điều 37, Điều 300, Điều 301 Luật Thương Mại 2005;
- - Căn cứ án lệ 09/2016/AL;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Đ1. Buộc công ty Cổ phần Đ2 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV Đ1 số tiền 404.000.000đ (bốn trăm lẻ bốn triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ2 phải chịu 20.160.000đ (hai mươi triệu, một trăm sáu mươi ngàn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV Đ1 số tiền 10.080.000đ (mười triệu, không trăm tám mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003080 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Hường |
Bản án số 25/2024/KDTM-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng kinh tế - mua bán hàng hóa
- Số bản án: 25/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng kinh tế - mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
