|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST Ngày 29 tháng 7 năm 2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thị, bà Vương Thị Thu
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Ngô Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1981
Địa chỉ: Khu B, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Anh T), sinh năm 1978
Địa chỉ: Khu B, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Văn T) đăng ký kết hôn ngày 16/11/2001 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, hai bên ở riêng tại xã N. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách hai bên không hợp nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, xảy ra cãi chửi nhau. Đỉnh điểm mâu thuẫn xảy ra đầu năm 2024 dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn T (tức T). Về con chung: Chị và anh T không có con chung. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Bị đơn anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Văn T) đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Toà án làm việc nên không lấy được lời khai của anh T và không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tòa án xác minh tại nơi cư trú của anh T, nội dung xác minh thể hiện như sau: Chị Bùi Thị H và anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Văn T) đăng ký kết hôn ngày 16/11/2001 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai bên ở riêng tại xã N. Quá trình chung sống, chị H và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đỉnh điểm vào đầu năm 2024. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến xảy ra cãi chửi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị H và anh T đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, hai bên không còn quan tâm yêu thương nhau. Chị H và anh T không có con chung. Tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Vợ chồng chị H và anh T có hay không thì địa phương không nắm được. Anh T đi làm ăn xa, thỉnh thoảng vẫn có mặt ở địa phương. Nay chị H xin ly hôn anh T, quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, thực tế hiện nay vợ chồng đang sống ly thân. Phát biểu của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký ghi biên bản phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và nguyên đơn dân sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã không chấp hành các quy định của pháp luật. Toà án đã niêm yết các văn bản đúng đủ thời gian theo quy định. Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị H được ly hôn anh T.
Về con chung: Hai bên xác nhận không có con chung nên không giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung, công sức đóng góp: Chị H không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Xét thấy anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Văn T) cư trú tại xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nay chị Bùi Thị H xin ly hôn anh T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Nguyên đơn chị Bùi Thị H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H.
Bị đơn anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Anh T) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc và vẫn vắng mặt phiên tòa lần 2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 208, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và xét xử vắng mặt anh T là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Anh T) đăng ký kết hôn ngày 16/11/2001 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Xét thấy chị H và anh T sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách hai bên không hợp nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Toà án xác minh tại nơi cư trú của anh T thì tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T không được hạnh phúc, hiện nay đang sống ly thân. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T mâu thuẫn rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc xin ly hôn anh T là có căn cứ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H nên xử cho chị H được ly hôn anh T.
[3] Về con chung: Chị H và anh T không có con chung nên không giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Xét thấy chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, còn anh T vắng mặt nên không lấy được lời khai của anh T. Vì vậy, không giải quyết tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H về việc xin ly hôn anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Anh T). Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T (tức Đỗ Anh T).
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0001901 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba (Xác nhận chị H đã nộp đủ 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa (đã ký) Trần Thị Lan Anh |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân gia đình
