|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-PT Ngày 29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và bà Đinh Thị Như Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 35/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo **Lê Minh T**, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo:
**Lê Minh T**, sinh ngày 15/7/1992 tại tỉnh Bình Định. Nơi thường trú: Tổ dân phố D, thị trấn K, huyện M, Gia Lai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Minh T1 (Sinh năm: 1975) và bà Ngô Thị Cẩm T2 (Sinh năm: 1960). Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 24/9/2010 bị Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai có Bản án số 80/2010/HSPT ngày 24/9/2010 xử phạt 13 (mười ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (đã xoá án tích).
Ngày 28/2/2022 có hành vi trộm cắp tài sản tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/5/2023 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh có Bản án số 108/2023/HS-ST xử phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/9/2022 tại Nhà tạm giữ Công an quận G, sau đó chuyển đến thi hành án phạt tù tại Trại giam T4 thuộc huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Dương Đình V, sinh năm: 1984; trú tại: Làng H, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/6/2020, Lê Minh T (Sinh năm: 1992; trú tại tổ dân phố D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai) đi đến nhà anh N (Sinh năm: 1995; trú tại làng C, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai) để thuê đi bốc gỗ thì được anh N đồng ý. Sau đó T mượn xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của anh N đi đến nhà V1 (Sinh năm: 1998; trú tại làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai) để thuê V1 đi bốc gỗ và thuê xe công nông chở gỗ cho T. Sau đó V1 đến nhà G (Sinh năm 1994; trú cùng làng Đ) hỏi thuê xe công nông cho T thì G đồng ý, G nói xe hết dầu nên V1 quay về lại nhà bảo T đưa 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để mua dầu đổ vào xe công nông. Sau đó, G điều khiển xe công nông chở V1, T điều khiển xe mô tô chở N đi trước dẫn đường. Khi đến đầu làng B, xã L thì T gặp Lê Minh T3 (Sinh năm: 1996, là em trai của T) đi từ thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai vào thì T bảo T3 đi theo vì trước đó T đã điện thoại cho T3 nhờ đi bốc gỗ. Khi đến nhà của anh Dương Đình V (Sinh năm: 1984) tại làng H, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai, lúc này nhà anh V đóng cửa, tắt điện, không có ai ở nhà. Thấy không có người trông coi nên T chỉ 07 khúc gỗ để trước hiên nhà và nói với mọi người là “gỗ đã mua rồi, nhưng không có giấy tờ nên bốc gỗ vào ban đêm để tránh sự phát hiện của chính quyền địa phương”, nghe vậy thì N, G, V1 và T3 tin tưởng T rồi cùng nhau bốc lên xe công nông. Bốc gỗ lên xe xong, T dẫn đường chở ra bãi đất trống thuộc làng H rồi bỏ gỗ xuống. Sau đó, T tiếp tục dẫn đến nhà anh H (sinh năm 1994) cùng làng H, tại đây T gặp và nói với bà H1 (sinh năm 1956, mẹ của anh H) là đã mua 02 khúc gỗ của anh H rồi. Nghe vậy, bà H1 để cho T, V1, G, T3 và N bốc 02 khúc gỗ lên xe công nông rồi chở ra đổ xuống bãi tập kết trước đó. Sau khi đổ gỗ xuống thì T trả cho G 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền thuê xe, G nhận tiền rồi điều khiển xe công nông chở V1 đi về nhà, còn T, T3 và N ở lại trông coi gỗ.
Sáng ngày 10/06/2020, anh Dương Đình V từ quán tạp hóa của gia đình ở làng T, xã L về thì phát hiện 07 khúc gỗ để ở trước hiên nhà và một số tài sản trong nhà bị mất gồm: 01 máy giặt hiệu LG 7,2kg mua năm 2019; 01 tivi Samsung 21 inch mua năm 2016; 01 Điamô phát điện 12V mua năm 2018; 01 mô tơ phát điện loại 1,5HP mua năm 2017 và 01 máy bơm thuốc sâu mua năm 2017. Sau đó anh Dương Đình V làm đơn trình báo cơ quan Công an.
Ngày 05/9/2020, anh H đã làm đơn trình báo Công an về việc bị mất trộm 02 khúc gỗ sơn huyết vào ngày 09/6/2020 tại nhà thuộc làng H, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra các đối tượng Lê Minh T3, G, V1 và N khai nhận việc được Lê Minh T thuê và nhờ bốc gỗ, T nói số gỗ trên đã mua nhưng không có giấy tờ nên bốc gỗ vào ban đêm để tránh sự phát hiện của chính quyền địa phương nên Lê Minh T3, G, V1 và N tin tưởng rằng T đã mua gỗ số gỗ trên và hoàn toàn không biết việc T đang thực hiện hành vi trộm cắp. Riêng đối với Lê Minh T sau khi sự việc xảy ra đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Tại Bản kết luận định giá số: 17/KL – ĐGTS ngày 15/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M, tỉnh Gia Lai kết luận “07
2
khúc gỗ xẻ, gỗ SP6” trị giá: 3.054.520 đồng (ba triệu không trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm hai mươi đồng); 01 (một) máy giặt hiệu LG 7,2kg mua năm 2019 trị giá 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng); 01 (một) tivi S1 21 inch mua năm 2016 trị giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) Điamô phát điện 12V mua năm 2018 trị giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); 01 (một) mô tơ phát điện loại 1,5HP mua năm 2017 trị giá 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) máy bơm thuốc sâu mua năm 2017 trị giá 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá số: 28/KL – ĐGTS ngày 08/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M, tỉnh Gia Lai kết luận: “02 khúc gỗ S huyết, gỗ tròn, nhóm I” có trị giá: 4.010.000 đồng (bốn triệu không trăm mười nghìn đồng).
Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 20/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên Lê Minh T đã bỏ trốn khỏi địa phương, vì vậy ngày 11/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định truy nã đối với Lê Minh T. Đến ngày 20/11/2020, sau khi hết thời hạn điều tra nhưng vẫn chưa bắt được Lê Minh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra đối với bị can Lê Minh T.
Ngày 28/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận G, thành phố Hồ Chí Minh bắt người đang bị truy nã đối với Lê Minh T theo Quyết định truy nã số: 12/QĐTN ngày 10/6/2022 về tội “Trộm cắp tài sản” của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, thành phố Hồ Chí Minh đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Gia Lai. Ngày 07/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và phục hồi điều tra đối với Lê Minh T để tiến hành điều tra theo quy định. Quá trình làm việc, bị cáo Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 07 khúc gỗ xẻ Sp6 tại nhà anh Dương Đình V và 02 khúc gỗ sơn huyết tại nhà anh H thuộc làng H, xã L, huyện M, tỉnh Gia Lai vào đêm ngày 09/6/2020.
* Vật chứng vụ án và đồ vật tạm giữ:
07 khúc gỗ của gia đình anh Dương Đình V.
- + 01 (một) khúc gỗ kích thước: dài 2,8 m; rộng 60 cm; dày 20cm.
- + 01 (một) khúc gỗ kích thước: dài 2,5 m; rộng 60 cm; dày 15 cm.
- + 01 (một) khúc gỗ kích thước: dài 2,9 m; rộng 80 cm; dày 20 cm.
- + 01 (một) khúc gỗ kích thước: dài 2,5 m; rộng 60 cm; dày 15 cm.
- + 01 (một) khúc gỗ kích thước: dài 2,1 m; rộng 25 cm; dày 25 cm.
- + 01 (một) khúc gỗ kích thước: dài 2,0 m; rộng 35 cm; dày 15 cm.
- + 01 (một) khúc gỗ kích thước: dài 2,0 m; rộng 25 cm; dày 20 cm.
02 khúc gỗ tròn của gia đình anh H có cùng đường kính 40 cm, dài 1,5m.
01 (một) xe công nông (đã qua sử dụng).
3
Việc xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra xác định số gỗ bị trộm cắp có nguồn gốc hợp pháp của người dân khai thác trong vườn nhà. Vì vậy, ngày 07/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 02 trả cho chủ sở hữu.
+ Trả cho anh Dương Đình V: 07 (bảy) khúc gỗ gồm: 01 khúc gỗ kích thước: dài 2,8 m; rộng 60 cm; dày 20cm; 01 khúc gỗ kích thước: dài 2,5 m; rộng 60 cm; dày 15 cm; 01 khúc gỗ kích thước: dài 2,9 m; rộng 80 cm; dày 20 cm; 01 khúc gỗ kích thước: dài 2,5 m; rộng 60 cm; dày 15 cm; 01 khúc gỗ kích thước: dài 2,1 m; rộng 25 cm; dày 25 cm; 01 khúc gỗ kích thước: dài 2,0 m; rộng 35 cm; dày 15 cm; 01 khúc gỗ kích thước: dài 2,0 m; rộng 25 cm; dày 20 cm.
+ Trả cho anh H: 02 khúc gỗ tròn có cùng đường kính 40 cm, dài 1,5m.
+ Đối với xe công nông mà bị cáo T thuê của anh G đi chở gỗ. Quá trình điều tra xác định khi bị cáo T thuê xe và nói số gỗ trên T đã mua nên anh G không biết đây là tài sản trộm cắp. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe công nông cho anh G.
+ Đối với xe ô tô tải của anh Vũ Hồng V2, quá trình điều tra xác định: Sau khi bị cáo T trộm cắp gỗ thì sáng ngày 10/6/2020, T gọi điện nhờ anh V2 đi vào xã L để chở gỗ. Anh V2 không biết số gỗ này là do bị cáo T trộm cắp. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô tải cho anh V2.
* Về phần dân sự: Sau khi nhận lại số gỗ bị trộm cắp, bị hại Dương Đình V yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng do số gỗ trên bị hư hỏng, nứt nẻ. Quá trình điều tra, bị cáo Lê Minh T đồng ý bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho anh Dương Đình V nhưng chưa thực hiện việc bồi thường.
- Đối với bị hại anh H: Sau khi nhận lại tài sản, anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm.
* Đối với người liên quan:
Đối với Lê Minh T3, G, V1, N, Vũ Hồng V2 được bị cáo Lê Minh T thuê và nhờ bốc gỗ, T nói số gỗ trên đã mua nhưng không có giấy tờ nên bốc gỗ vào ban đêm để tránh sự phát hiện của chính quyền địa phương nên tin tưởng T đã mua gỗ số gỗ trên và hoàn toàn không biết việc T đang thực hiện hành vi trộm cắp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành xử lý.
Đối với những tài sản bị trộm cắp khác:
* Theo báo cáo của bị hại Dương Đình V gồm: 01 (một) máy giặt hiệu LG 7,2kg; 01 (một) tivi Samsung 21 inch; 01 (một) Điamô phát điện 12V; 01 (một) mô tơ phát điện loại 1,5HP và 01 (một) máy bơm thuốc sâu có trị giá 4.350.000 đồng (bốn triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Nhưng quá trình điều tra, bị cáo Lê Minh T và những người liên quan gồm: Lê Minh T3, N, V1, G đều khai nhận bị cáo T chỉ trộm cắp 07 khúc gỗ trước hiên nhà anh V chứ không lấy thêm tài sản nào khác. Do đó, hiện tại chưa xác định được đối tượng thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, ngày 08/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
4
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS, ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Minh T ra trước Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tội danh và hình phạt: Tuyên bố: Bị cáo **Lê Minh T** phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo **Lê Minh T** 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù của Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh về “Tội trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo **Lê Minh T** phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo **Lê Minh T** bồi thường số tiền 20.000.000 đồng do số gỗ trên bị hư hỏng, nứt nẻ, cho bị hại **Dương Đình V**.
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo qui định.
3. Kháng cáo của bị hại:
Sau khi bản án sơ thẩm được tuyên, ngày 27/3/2024 bị hại là anh **Dương Đình V** có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, yêu cầu điều tra lại, tăng mức bồi thường cho bị hại và tăng hình phạt đối với bị cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
- * Bị cáo **Lê Minh T** khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử.
- * Bị hại là anh **Dương Đình V** giữ nguyên kháng cáo.
- * Kiểm sát viên có quan điểm: Kháng cáo của bị hại **Dương Đình V** là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị hại anh **Dương Đình V** trong hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm, nên được xem xét.
[2] Xét kháng cáo của bị hại anh **Dương Đình V** thấy rằng:
5
- Đối với kháng cáo về việc xem xét, điều tra lại vụ án và tăng mức hình phạt đối với bị cáo:
Khoảng 22 giờ ngày 09/6/2020, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu bị cáo **Lê Minh T** đã thực hiện hành vi trộm cắp 07 khúc gỗ SP6 tại nhà của anh **Dương Đình V** và 02 khúc gỗ sơn huyết tại nhà anh H để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Ngoài trộm cắp các tài sản trên quá trình điều tra không có cơ sở xác định bị cáo còn trộm cắp tài sản nào khác của nhà bị hại V (như 01 (một) máy giặt hiệu LG 7,2kg; 01 (một) tivi Samsung 21 inch; 01 (một) Điamô phát điện 12V; 01 (một) mô tơ phát điện loại 1,5HP và 01 (một) máy bơm thuốc sâu).
Theo kết luận tại Bản kết luận định giá số: 17/KL – ĐGTS ngày 15/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M, tỉnh Gia Lai kết luận “07 khúc gỗ xẻ, gỗ SP6” mà T trộm cắp của anh V trị giá: 3.054.520 đồng. Theo kết luận tại Bản kết luận định giá số: 28/KL – ĐGTS ngày 08/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M, tỉnh Gia Lai kết luận: “02 khúc gỗ S huyết, gỗ tròn, nhóm I” mà T trộm cắp của anh H có trị giá: 4.010.000 đồng. Tài sản trong 02 lần trộm cắp của T có giá trị **7.064.520 đồng**.
Lời khai của bị cáo T phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tài sản bị cáo T trộm cắp giá trị không lớn, các bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng có khung hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
- Đối với kháng cáo về việc tăng mức bồi thường:
Tại giai đoạn sơ thẩm, anh V đã được nhận lại toàn bộ 07 khúc gỗ xẻ bị cáo T trộm cắp, theo kết quả định giá 07 khúc gỗ trị giá: 3.054.520 đồng, anh V không có ý kiến gì, chỉ yêu cầu T phải bồi thường 20.000.000₫ do gỗ bị hư hỏng, nứt nẻ vì thời tiết, bị cáo T đã đồng ý bồi thường 20.000.000 đồng. Do đó, việc anh V kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường là không hợp lý, không có căn cứ để chấp nhận.
Bị hại là anh V kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới để chứng minh, nên toàn bộ kháng cáo của anh **Dương Đình V** là không có cơ sở để chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo về tăng mức bồi thường không được chấp nhận nên anh **Dương Đình V** phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại anh **Dương Đình V**. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt và phần trách nhiệm dân sự.
- Tuyên bố: Bị cáo **Lê Minh T** phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo **Lê Minh T** 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù của Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo **Lê Minh T** phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo **Lê Minh T** bồi thường số tiền 20.000.000 đồng do số gỗ trên bị hư hỏng, nứt nẻ cho bị hại **Dương Đình V**.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 quy định về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm e, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí tòa án:
Bị hại anh **Dương Đình V** phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
7
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sinh |
8
Bản án số 25/2024/HS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh Th phạm tội trộm cắp tài sản
