|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày: 28/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2023/TLST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; sinh năm: 1995, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, Phường N, thị xã M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn P (đã chết); Con bà: Lò Thị T1; sinh năm 1975; Vợ Quàng Thị Minh N; sinh năm 1997 (đã ly hôn năm 2021); Bị cáo có 02 con chung; con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị Tòa án nào xét xử; chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2023, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại gồm: Anh Sềnh A; sinh năm: 1979 và chị Vàng Thị C; sinh năm: 1984; cùng địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Vàng Thị C: Anh Sềnh A S; sinh năm: 1979; Địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
* Người làm chứng: Anh Sềnh A S1; sinh năm: 1995; Địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/10/2023 Lò Văn T đi bộ một mình từ bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên lên bản H, xã N, huyện Đ để chơi, khi đến khu vực lán ruộng của anh S2 A S; sinh năm 1979; địa chỉ: bản H, xã N, huyện Đ thì nhìn thấy chiếc xe mô tô BKS 27B1- 607.92 màu Xanh, bạc, đen, nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER của Só để ở gần lề đường, ngay lối xuống lán ruộng của nhà anh S. Sau đó Bị cáo đi bộ xuống lán ruộng, khi đến chỗ hiên lán, Bị cáo uống nước rồi quay ra nhìn thấy con dao nhọn dài khoảng 42cm, cán dao được làm bằng gỗ để ở ngay hiên lán ruộng, do cửa lán ruộng đã khóa lên Bị cáo không vào được bên trong. Quan sát thấy không có ai, Bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của anh S để làm phương tiện đi lại nên Bị cáo lấy con dao nhọn mục đích để cậy phá, mở khóa xe mô tô. Bị cáo đi lên dắt chiếc xe mô tô của anh S đi về hướng bản H, xã N, huyện Đ. Khi Bị cáo dắt xe thì anh S đang làm ruộng ở dưới nhìn thấy, nhưng do Bị cáo đang cầm con dao nhọn nên anh S đi theo sau để theo dõi và gọi điện trình báo Công an xã N, huyện Đ. Bị cáo dắt trộm xe đi khoảng được 45 phút đến khu vực thuộc bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì dựng xe ở bụi cây ven đường, rồi lấy con dao nhọn cậy phần ổ khóa điện của xe mô tô. Hồi 16 giờ 50 phút cùng ngày, khi Bị cáo đang dùng dao chuẩn bị cắt dây khóa điện xe mô tô thì bị tổ công tác Công an xã N, huyện Đ cùng với anh S2 A S phát hiện, bắt quả tang, thu giữ xe mô tô và con dao nhọn. Sau đó Công an xã N, huyện Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bị cáo và đưa Bị cáo về Công an xã N làm việc.
Vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER; màu Xanh, bạc, đen; BKS 27B1- 607.92, xe cũ, đã qua sử dụng. 01 con dao nhọn bằng kim loại dài khoảng 42cm, cán dao được làm bằng gỗ, dao cũ đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 50/KL- ĐGTS ngày 23/10/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER; màu Xanh, bạc, đen; BKS 27B1- 607.92 mua từ tháng 8/2017, có giá trị là: 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
01 con dao nhọn bằng kim loại dài khoảng 42cm, cán dao được làm bằng gỗ, dao cũ đã qua sử dụng, mua từ tháng 11/2022 với giá 200.000 đồng, trừ khấu hao còn 150.000 đồng.
Tổng cộng 02 khoản là: 4.650.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Trong quá trình điều tra Bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại Quyết định truy tố số: 01/QĐ-VKS-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Bị cáo: Từ 10 tháng đến 01 năm 03 tháng về tội "Trộm cắp tài sản".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER; màu Xanh, bạc, đen; BKS 27B1- 607.92, xe cũ, đã qua sử dụng. 01 con dao nhọn bằng kim loại dài khoảng 42cm, cán dao được làm bằng gỗ, dao cũ đã qua sử dụng. Qua điều tra, xác minh chiếc xe mô tô và 01con dao nhọn trên là của gia đình anh S2 A S; sinh năm: 1979 và chị Vàng Thị C; sinh năm: 1984; cùng địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Ngày 06/11/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Sềnh A S theo Quyết định xử lý vật chứng số 31/QĐ- CSĐT. HS. Về trách nhiệm dân sự: Anh Sềnh A S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Bị cáo phải bồi thường gì khác. Đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Lời nói nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX vào nghị án. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của Bị hại và Người làm chứng cũng như phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận định giá tài sản, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ ngày 20/10/2023, tại khu vực bản H, xã N, huyện Đ, Bị cáo đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của gia đình anh S2 A S; sinh năm: 1979 và chị Vàng Thị C; sinh năm: 1984; cùng địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER; màu Xanh, bạc, đen; BKS 27B1- 607.92, xe cũ, đã qua sử dụng và 01 con dao nhọn bằng kim loại dài khoảng 42cm, cán dao được làm bằng gỗ, dao cũ đã qua sử dụng. Tổng trị giá là: 4.650.000 đồng, mục đích để làm phương tiện đi lại và lấy con dao vừa để cậy khóa vừa để dùng cá nhân. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện
hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Bị cáo không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản có giá trị là 4.650.000 đồng. Hành vi của Bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Điện Biên, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên được gia đình nuôi dưỡng học hết lớp 9/12, nghỉ học.
- Năm 2015 kết hôn với chị Quàng Thị Minh N; sinh năm 1997, đến năm 2021 ly hôn, Bị cáo có 02 con chung; con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có ông ngoại là ông Lò Văn C1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngày 20/10/2023 Bị cáo bị Công an xã N, huyện Đ bắt phạm tội quả tang về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 23/10/2023 Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên khởi tố Bị can, lệnh tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của các Bị cáo là Lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
- Về vật chứng vụ án gồm:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER; màu Xanh, bạc, đen; BKS 27B1- 607.92, xe cũ, đã qua sử dụng. 01 con dao nhọn bằng kim loại dài
khoảng 42cm, cán dao được làm bằng gỗ, dao cũ đã qua sử dụng. Qua điều tra, xác minh chiếc xe mô tô và 01con dao nhọn trên là của gia đình anh S2 A S; sinh năm: 1979 và chị Vàng Thị C; sinh năm: 1984; cùng địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Ngày 06/11/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Sềnh A S theo Quyết định xử lý vật chứng số 31/QĐ- CSĐT. HS. Xét thấy việc trả lại tài sản là có căn cứ, do vậy HĐXX cần chấp nhận.
Tại phiên tòa Bị hại anh S2 A S đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của chị Vàng Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt về trách nhiệm dân sự không yêu cầu Bị cáo bồi thường, nên HĐXX không xem xét.
Xét đề nghị của anh S là có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
[6.1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[6.2] Về sự vắng mặt của Bị hại anh S2 A S đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của chị Vàng Thị C; người làm chứng anh Sềnh A S1. Xét thấy Bị hại và Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Bị hại và Người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt Bị hại và Người làm chứng theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt Bị cáo: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (20/10/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Chấp nhận đề nghị của Bị hại về việc không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với Bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Chấp nhận biên bản trả lại tài sản của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên cho chủ sở hữu là anh Sềnh A S.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Nơi nhận:
|
Bản án số 25/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 25/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Trộm cắp tài sản". Xử phạt Bị cáo: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (20/10/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
