|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang
Bà Trịnh Thị Trúc Linh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân
dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và điểm cầu thành phần trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 1997, tại quận T, thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị S; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo Nguyễn Văn B bị bắt tạm giam từ ngày 09 tháng 4 năm 2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Hồ Thị Hồng H, sinh năm: 1968; Nơi cư trú: ấp H, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Thanh Đ, sinh năm: 1983; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Trần Minh T, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào buổi sáng ngày 16/02/2023, Nguyễn Văn B sử dụng điện thoại di động (sim số 0942622400) gọi vào số máy 0823292826 của bà Hồ Thị Hồng H. Khi bà H nghe máy thì B tự xưng mình tên là T1. Lúc này, bà H nhầm tưởng T1 là người quen của gia đình mình. Qua trò chuyện B nói với bà H: “Có quen với người tên T2 làm trong Công ty xổ số kiến thiết” và hỏi bà H có đánh đề không, nếu có thì B cho bà H số để đánh. Trường hợp đánh đề trúng thì cho B tiền nên bà H đồng ý. Bi đọc một con số cho bà H (hiện nay B không nhớ số mấy). Đến khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, bà H điện thoại cho B nói đánh số trúng và cho B tiền nên B nhắn tin cho bà H số tài khoản 060232691835, tên Nguyễn Văn K (Ngân hàng S1). Bà H đến tiệm V” ở chợ C, thuộc xã L, thị xã L chuyển vào tài khoản 060232691835 số tiền 34.000.000 đồng.
Đến sáng ngày 17/02/2023, B tiếp tục điện thoại cho bà H hỏi chơi số nữa không và đọc số điện thoại 0911.551.xxx cho bà H, B nói là số điện thoại của anh T2. Sau đó, bà H điện thoại vào số 0911.551.xxx thì B bắt máy nói chuyện, B giả giọng tự xưng mình tên T2 làm trong Công ty xổ số kiến thiết. Bi hỏi bà H muốn chơi số nữa không thì bà H đồng ý, B kêu bà H chuyển cho B 50.000.000 đồng vào tài khoản thì B sẽ cho bà H số để chiều đánh. Sau đó, bà H đến tiệm vàng “Ngọc Trị” ở chợ C chuyển 50.000.000 đồng vào tài khoản 060232691835. Nhận được tiền, B đọc cho bà H một con số (nhưng không nhớ số mấy). Tổng số tiền B đã chiếm đoạt của bà H trong 02 lần là 84.000.000 đồng.
Sau đó, Nguyễn Văn B thuê anh Lê Thanh Đ chở B đi đến thành phố R, tỉnh Kiên Giang để rút tiền. Khi đi gần đến thành phố R, B xuống xe và thuê xe honda ôm đến trụ ATM S1 ở Trung tâm thương mại thành phố R để rút tiền. Tại đây, B chuyển 50.000.000 đồng từ tài khoản Nguyễn Văn K sang tài khoản tên Nguyễn Quốc Hải M. Sau đó, B sử dụng thẻ ATM tên Nguyễn Văn K rút 34.000.000 đồng và sử dụng thẻ ATM tên Nguyễn Quốc Hải M rút 50.000.000 đồng. Sau khi rút tiền xong B đi xe honda ôm trở lại nơi anh Đ đang đợi và lên xe ô tô cho anh Đ chở về nhà. Đến chiều cùng ngày B xem kết quả xổ số thấy số cho H không trúng nên B tắt điện thoại, cắt liên lạc với bà H.
Ngoài ra, quá trình điều tra Nguyễn Văn B còn khai nhận: Ngày 21/02/2024, cũng dùng thủ đoạn như trên, B gọi cho số một người đàn ông (không rõ lai lịch) chuyển tiền cho B tổng số tiền 52.500.000 đồng. Ngày 23/02/2024, khi B đang rút tiền tại trụ ATM thuộc huyện V, thành phố Cần Thơ thì bị Công an đến mời về làm việc.
Tại cáo trạng số 27/CT-VKS-TXLM, ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn B ra trước Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang để xét xử về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 03-04 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (từ ngày 09 tháng 4 năm 2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Thị Hồng H đã nhận lại số tiền 84.000.000 đồng, không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không giải quyết trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) thẻ thanh toán Plus của ngân hàng S1 số 9704 0399 2545 5550, mặt sau có chữ Đỗ Huỳnh Quốc T3.
- + 01 (một) thẻ thanh toán Plus của ngân hàng S1 số 9704 0380 3465 3386, mặt sau có chữ Trần Vũ Hoàng A.
- + 01 (một) nón bảo hiểm màu kem, phía sau có chữ TONATO Helmet.
- + 01 (một) áo khoác màu xanh - trắng.
- + 01 (một) đôi giày màu đen, phía trước có chữ LV.
- + 01 (một) kính đen hiệu Rayban đã qua sử dụng.
- + 01 (một) khẩu trang vải màu nâu có kẻ đen đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B:
- + 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, hiệu Nokia màu xanh đen, số Imel 3521 1545 6192 376 đã qua sử dụng.
- + 01 thẻ ATM của ngân hàng S1 số 5174 1600 9961 1783 tên NGUYEN VAN BI số tài khoản 0701 3643 2001.
- Trả lại cho Lê Thanh Đ:
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 037554 tên Nguyễn Minh G, biển kiểm soát 65K1-191.82.
- + 01 (một) xe máy Wave ZX màu đỏ đen mang biển kiểm soát 65K1- 191.82 đã qua sử dụng.
Lời sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn B: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, gửi lời xin lỗi đến bị hại mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hứa không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại Hồ Thị Hồng H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Thanh Đ; người làm chứng Trần Minh T vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố những người này đã có lời khai. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Vào các ngày 16/02/2023 và ngày 17/02/2023, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, bằng cách sử dụng điện thoại gọi vào số máy của bị hại Hồ Thị Hồng H cho số ngẫu nhiên để bị hại đánh số. Để tạo sự tin tưởng cho bà H, bị cáo tự xưng quen với người tên T2 làm trong Công ty xổ số kiến thiết, khi bà H gọi vào số điện do bị cáo cung cấp thì bị cáo B bắt máy (giả giọng tự xưng mình tên T2 làm trong Công ty xổ số kiến thiết thành phố H), đồng thời bị cáo B kêu bà H chuyển tiền vào tài khoản thì B sẽ cho bà H con số để bà H đánh số đề. Tuy nhiên, qua kết quả đối chất, bị hại bà H không thừa nhận có thực hiện hành vi đánh số đề mà mục đích bị cáo yêu cầu bị hại chuyển 200.000.000 đồng để được 01 chưng nhằm cung cấp con số đánh để làm từ thiện nhưng bị hại không đủ tiền để chuyển một lần nên chọn hình thức chuyển nhiều lần, bị hại cũng chưa đánh số đề lần nào, bị cáo cũng không xác định con số đã cung cấp cho bị hại, không nhớ đài xổ số. Tuy nhiên, với thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối nêu trên, bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại 02 lần, lần 01 vào ngày 16/02/2023, chiếm đoạt số tiền 34.000.000 đồng, lần 2 vào ngày 17/02/2023, chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng. Tổng số tiền, bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 84.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên cáo trạng số 27/CT-VKS-TXLM, ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
[4] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:
Hội đồng xét xử nhận định, hành vi giả mạo người làm ở công ty X, cung cấp thông tin sai sự thật, cam kết trúng thưởng do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, tiềm ẩn phát sinh những loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có mức án vừa răn đe, vừa giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung, phục vụ công tác tuyên truyền pháp luật.
Hoạt động kinh doanh xổ số nói chung và hoạt động quay số mở thưởng nói riêng bắt buộc phải tuân thủ theo các quy định pháp luật. Do vậy, không có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào được can thiệp hoặc biết trước kết quả quay số mở thưởng khi hoạt động quay số chưa diễn ra, các thông tin được cam kết trúng thưởng là hoàn toàn giả mạo, người dân cần cảnh giác.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng cho bị cáo.
[6] Từ những nhận định trên, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, lời luận tội của Kiểm sát viên, ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo nhằm chiếm đoạt số tiền của bị hại để phục vụ lợi ích cá nhân, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Cụ thể, xử phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng.
Việc quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử vừa răn đe, vừa giáo dục và phòng ngừa tội phạm cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền 84.000.000 đồng, không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không giải quyết trong vụ án này.
[9] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền Việt Nam 30.000.000 đồng, bị cáo thừa nhận đây là tiền thu lợi bất chính xuất phát từ việc lừa đảo bị hại khác (chưa xác định được lai lịch), tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo cũng thống nhất không nhận lại số tiền nêu trên mà thống nhất tịch thu sung quỹ Nhà nước. Sau này, khi xác định được bị
hại thì bị cáo sẽ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Do đó, đối với số tiền này cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 037554 tên Nguyễn Minh G, biển kiểm soát 65K1-191.82; 01 (một) xe máy Wave ZX màu đỏ đen mang biển kiểm soát 65K1-191.82 đã qua sử dụng, bị cáo mượn từ anh Lê Thanh Đ, anh Đ không biết bị cáo mượn xe để làm phương tiện đi rút tiền lừa đảo, chủ sở hữu xe là anh Nguyễn Minh G xác định đã bán xe cho anh Đ nên cần trả lại tài sản này cho cho Lê Thanh Đ.
- Đối với, 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, hiệu Nokia màu xanh đen, số Imel 3521 1545 6192 376 đã qua sử dụng, 01 thẻ ATM của ngân hàng S1 số 5174 1600 9961 1783 tên NGUYEN VAN BI số tài khoản 0701 3643 2001 không có liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với các vật chứng: 01 (một) thẻ thanh toán Plus của ngân hàng S1 số 9704 0399 2545 5550, mặt sau có chữ Đỗ Huỳnh Quốc T3; 01 (một) thẻ thanh toán Plus của ngân hàng S1 số 9704 0380 3465 3386, mặt sau có chữ Trần Vũ Hoàng A; 01 (một) nón bảo hiểm màu kem, phía sau có chữ TONATO Helmet; 01 (một) áo khoác màu xanh - trắng; 01 (một) đôi giày màu đen, phía trước có chữ LV; 01 (một) kính đen hiệu Rayban đã qua sử dụng; 01 (một) khẩu trang vải màu nâu có kẻ đen đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
[11] Đối với hành vi bị cáo khai nhận mua khoảng 10 thẻ ATM trên mạng để phục vụ cho việc phạm tội có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng nhưng chưa chứng minh đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 291 Bộ luật Hình sự năm 2015. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã L, tỉnh Hậu Giang tiếp tục làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với hành vi bị cáo khai cho số bị hại để đánh đề, bị hại không thừa nhận có thực hiện hành vi đánh số đề mà mục đích bị cáo yêu cầu bị hại chuyển 200.000.000 đồng để được 01 chưng nhằm cung cấp con số đánh để làm từ thiện nhưng bị hại không đủ tiền chuyển một lần nên chọn hình thức chuyển nhiều lần, bị hại cũng chưa đánh số đề lần nào, bị cáo cũng không xác định con số đã cung cấp cho bị hại, không nhớ đài xổ số nên chưa đủ căn cứ xét xử về hành vi đánh bạc. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã L, tỉnh Hậu Giang tiếp tục làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09 tháng 4 năm 2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn B 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày 28 tháng 8 năm 2024 để đảm bảo thi hành án.
[2] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn B 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Thị Hồng H đã nhận lại số tiền 84.000.000 đồng (T4 mươi bốn triệu đồng), không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không giải quyết trong vụ án này.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) thẻ thanh toán Plus của ngân hàng S1 số 9704 0399 2545 5550, mặt sau có chữ Đỗ Huỳnh Quốc T3.
- + 01 (một) thẻ thanh toán Plus của ngân hàng S1 số 9704 0380 3465 3386, mặt sau có chữ Trần Vũ Hoàng A.
- + 01 (một) nón bảo hiểm màu kem, phía sau có chữ TONATO Helmet.
- + 01 (một) áo khoác màu xanh - trắng.
- + 01 (một) đôi giày màu đen, phía trước có chữ LV.
- + 01 (một) kính đen hiệu Rayban đã qua sử dụng.
- + 01 (một) khẩu trang vải màu nâu có kẻ đen đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B:
- + 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, hiệu Nokia màu xanh đen, số Imel 3521 1545 6192 376 đã qua sử dụng.
- + 01 thẻ ATM của ngân hàng S1 số 5174 1600 9961 1783 tên NGUYEN VAN BI số tài khoản 0701 3643 2001.
- Trả lại cho Lê Thanh Đ:
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 037554 tên Nguyễn Minh G, biển kiểm soát 65K1-191.82.
- + 01 (một) xe máy Wave ZX màu đỏ đen mang biển kiểm soát 65K1- 191.82 đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, biên bản giao nhận tài sản ngày 11/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Kho bạc Nhà nước thị xã L).
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2024). Bị hại Hồ Thị Hồng H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Thanh Đ vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thanh Quyền |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt Nguyễn Văn B 4 năm tù.
