Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ S

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày: 28 – 6 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Gắng

Ông Nguyễn Ngọc Chẩn

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã S, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã S, tỉnh Phú Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có: Ông Phan Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã S, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo: Nguyễn Thanh N (Tên gọi khác: B), sinh ngày 16 tháng 10 năm 2002 tại thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; số CCCD: ..., ngày cấp 02 tháng 7 năm 2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH – Bộ Công an; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1974và bà Hà Thị D, sinh năm 1973; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/8/2023 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý bị Công an thị xã S bắt quả tang tại thôn C, xã X, thị xã S, ngày 08/9/2023 cơ quan CSĐT – Công an thị xã S khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh N về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/9/2023 tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hà Thị D, sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Anh Võ Ngọc Bảo T1, sinh năm 2004; nơi cư trú: thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Hữu M, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Chị Dương Thị Thu H1, sinh năm 1999; nơi thường trú: khu phố B, B, H, Bình Định; nơi ở hiện tại: thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 29/8/2023, Nguyễn Thanh N đến khu vực bến xe thành phố Q, tỉnh Bình Định gặp một người thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch) mua 02 bì ma túy với số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) để sử dụng. Sau đó, N dùng điện thoại di động lên mạng mua 01 cái cân tiểu ly, rồi cân phân chia thành 17 bì nilon ma túy nhỏ cất giấu trong túi xách nhãn hiệu DIOR màu đen - trắng tại nơi ở của N. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/8/2023, N đem túi xách có chứa số ma túy nêu trên đến nhà của vợ chồng ông Nguyễn Thanh H, bà Hà Thị D là cha mẹ ruột của N tại thôn C, xã X, thị xã S, phía sau trường THCS B1 để sử dụng. Lúc này có Nguyễn Văn L và Võ Ngọc Bảo T1 cũng đang có mặt tại ngôi nhà nói trên. N ra sau nhà lấy một vỏ chai nước và lấy một ống thuỷ tinh rồi dùng quẹt ga hơ nóng ống thuỷ tinh thổi thành nỏ thuỷ tinh và chế tạo bình sử dụng ma túy đá, các dụng cụ trên đều do một mình N chuẩn bị. Sau đó, N lấy trong túi xách 01 bì ma túy đá, dùng kéo cắt đổ vào nỏ thủy tinh rồi N, L, T1 mỗi người tự cầm bình sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ cùng ngày có Nguyễn Hữu M đến, N tiếp tục lấy trong túi xách 01 bì ma túy cắt đổ ma túy vào nỏ thủy tinh và rủ M sử dụng ma túy, M tự cầm bình chứa ma tuý sử dụng. Đến 12 giờ 10 phút cùng ngày, trong lúc N, M, L và T1 đang sử dụng ma túy tại nhà của ông H, bà D thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ 15 bì nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng, các đồ vật và dụng cụ sử dụng ma túy, N bỏ chạy trốn đến ngày 02/9/2023 N đến Cơ quan điều tra khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định số 452/K1-KTHS ngày 08 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu A1.1.1=2,600g, A1.1.2=0,263g, A1.2=0,261g, A1.3.1=0,087g, A1.3.2=0,096g, A1.3.3=0,084g, A1.3.4=0,089g, A1.4.1=0,126g, A1.4.2=0,137g, A1.4.3=0,114g, A1.4.4=0,136g, A1.5.1=0,089g, A1.5.2= 0,088g, A1.6.1=0,088g, A1.6.2 = 0,096g bì nilon trong suốt hàn kín là ma tuý có tổng khối lượng 4,354g loại Methamphetamine.

Tinh thể màu trắng (ký hiệu A2) bám dính mặt trong đầu hình cầu của ống thủy tinh trong suốt do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Vì lượng tinh thể màu trắng bám dính ít nên không xác định được khối lượng.

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSSC ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã S đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã S đã truy tố và thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng tội.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSSC ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã S, tỉnh Phú Yên. Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2023.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy đối với chất cấm tàng trữ, cấm lưu hành, những công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng: Số ma tuý còn lại sau giám định 3,874gam Methamphetamine theo kết luận giám định số 452/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh P; 01 (một) chai nhựa tự chế có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) ống thuỷ tinh trong suốt có một đầu hình cầu; 02 (hai) cái kéo bằng kim loại; 01 (một) cuộn băng dính màu đen; 02 (hai) cái quẹt ga; 01 (một) bì nilon bên trong có chứa 06 (sáu) bì nilon nhỏ; 01 (một) bì nilon bên trong được chia làm hai ngăn, một ngăn có chứa 13 (mười ba) ống nhựa, một ngăn có chứa 19 (mười chín) ống nhựa; 02 (hai) thanh kim loại có đầu sắc nhọn; 01 (một) túi xách nhãn hiệu DIOR màu đen trắng; 01 (một) hộp giấy màu xanh; 01 (một) cân tiểu ly màu đen.

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động IPHONE 7 PLUS mặt lưng màu hồng, số máy MNRL2LL/A, số sêri F2LSWX9AHG07, tình trạng sim không hoạt động của chủ sở hữu Nguyễn Thanh N.

- Trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp: 01 (một) ví da, 01 (một) chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thanh N, 01 (một) thẻ Visa ngân hàng T2 mang tên Nguyễn Thanh N, số tiền 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thanh N do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cơ quan CSĐT Công an thị xã S không đủ cơ sở xác minh để xử lý.

Đối với Nguyễn Văn L, Võ Ngọc Bảo T1 và Nguyễn Hữu M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với ông Nguyễn Thanh H, bà Hà Thị D (là chủ nhà) nhưng ông H, bà D không biết Nguyễn Thanh N có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong phần đối đáp, không phát sinh tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: “Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về làm ăn để lo cho gia đình”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã S và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã S trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và họ đã được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai. Do đó, xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo và không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp Kết luận giám định số 452/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh P; các lời khai này đều đã được Cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng Hình sự quy định và đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 30/8/2023, tại nhà ở của vợ chồng ông Nguyễn Thanh H và bà Hà Thị D thuộc thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Thanh N có hành vi tàng trữ 4,354g ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng và có hành vi chuẩn bị, cung cấp địa điểm, dụng cụ, cung cấp chất ma tuý, trực tiếp rủ Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu M và Võ Ngọc Bảo T1 sử dụng trái phép chất ma tuý đá. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh N đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số 27/CT-VKSSC ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã S, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo biết rõ ma tuý là chất cấm, việc sử dụng ma tuý trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của bị cáo, ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, biết việc tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặc dù khi bị phát hiện bắt quả tang bị cáo đã bỏ trốn, nhưng sau đó bị cáo đã ra trình diện là trường hợp đầu thú nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Xét thấy việc Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ: Số ma tuý còn lại sau giám định 3,874gam Methamphetamine theo kết luận giám định số 452/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh P.

- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chai nhựa tự chế có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) ống thuỷ tinh trong suốt có một đầu hình cầu; 02 (hai) cái kéo bằng kim loại; 01 (một) cuộn băng dính màu đen; 02 (hai) cái quẹt ga; 01 (một) bì nilon bên trong có chứa 06 (sáu) bì nilon nhỏ; 01 (một) bì nilon bên trong được chia làm hai ngăn, một ngăn có chứa 13 (mười ba) ống nhựa, một ngăn có chứa 19 (mười chín) ống nhựa; 02 (hai) thanh kim loại có đầu sắc nhọn; 01 (một) túi xách nhãn hiệu DIOR màu đen trắng; 01 (một) hộp giấy màu xanh; 01 (một) cân tiểu ly màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS mặt lưng màu hồng, số máy MNRL2LL/A, số sêri F2LSWX9AHG07, tình trạng sim không hoạt động.

- Trả lại cho bị cáo N: 01 (một) ví da, 01 (một) chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thanh N, 01 (một) thẻ Visa ngân hàng T2 mang tên Nguyễn Thanh N.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã S và Chi cục thi hành án dân sự Thị xã S.

- Trả lại cho bị cáo N: số tiền 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự Thị xã S lập ngày 13/05/2024.

[8] Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thanh N do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cơ quan CSĐT Công an thị xã S không đủ cơ sở xác minh để xử lý.

[9] Đối với Nguyễn Văn L, Võ Ngọc Bảo T1 và Nguyễn Hữu M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính.

[10] Đối với ông Nguyễn Thanh H, bà Hà Thị D là chủ nhà, đồng thời cũng là cha mẹ ruột của bị cáo nhưng ông H, bà D không biết Nguyễn Thanh N có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

[11] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2023.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định 3,874gam Methamphetamine theo kết luận giám định số 452/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh P; 01 (một) chai nhựa tự chế có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) ống thuỷ tinh trong suốt có một đầu hình cầu; 02 (hai) cái kéo bằng kim loại; 01 (một) cuộn băng dính màu đen; 02 (hai) cái quẹt ga; 01 (một) bì nilon bên trong có chứa 06 (sáu) bì nilon nhỏ; 01 (một) bì nilon bên trong được chia làm hai ngăn, một ngăn có chứa 13 (mười ba) ống nhựa, một ngăn có chứa 19 (mười chín) ống nhựa; 02 (hai) thanh kim loại có đầu sắc nhọn; 01 (một) túi xách nhãn hiệu DIOR màu đen trắng; 01 (một) hộp giấy màu xanh; 01 (một) cân tiểu ly màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS mặt lưng màu hồng, số máy MNRL2LL/A, số sêri F2LSWX9AHG07, tình trạng sim không hoạt động.

- Trả lại cho bị cáo N: 01 (một) ví da, 01 (một) chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thanh N, 01 (một) thẻ Visa ngân hàng T2 mang tên Nguyễn Thanh N.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã S và Chi cục thi hành án dân sự Thị xã S.

- Trả lại cho bị cáo N: số tiền 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự Thị xã S lập ngày 13/05/2024.

[4] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TX. S;
  • - VKSND tỉnh PY;
  • - CSĐT Công an TX. S;
  • - Chi cục THADS TX. S;
  • - CQ THAHS TX.S;
  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tôn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 30/8/2023, tại nhà ở của vợ chồng ông Nguyễn Thanh H và bà Hà Thị D thuộc thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Thanh N có hành vi tàng trữ 4,354g ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng và có hành vi chuẩn bị, cung cấp địa điểm, dụng cụ, cung cấp chất ma tuý, trực tiếp rủ Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu M và Võ Ngọc Bảo T sử dụng trái phép chất ma tuý đá.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger