|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày 26/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và ông Hà Đức Trưởng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Phùng Thanh S; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 16/7/2004, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nơi cư trú: Khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 9/12;
Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Phùng Văn H, sinh năm: 1982 và bà: Đinh Thị N, sinh năm 1982;
Vợ/con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 Tiền án. Tại Bản án số 23/2022/HSST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tuyên phạt S 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án nhưng chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho Bị cáo S: Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).
Bị hại: Bà Phan Thị V, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phùng Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
2. Chị Hà Phương M, sinh năm 2007. Địa chỉ: Khu Í, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho chị M: Bà Hà Thị Q, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu Í, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là mẹ đẻ chị M) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị M: Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
a) Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 20 tháng 04 năm 2024, Phùng Thanh S, thường trú: khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ và bạn gái là chị Hà Phương M, thường trú: xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ chơi ở nhà S. Sau khi trời tạnh mưa và mất điện, S lấy 01 chiếc đèn pin loại đèn đội đầu và nói với M là S đi soi ếch. S một mình đi xuống ruộng lúa cạnh nhà rồi đi sang ruộng lúa cạnh nhà bà Phan Thị V, sinh năm: 1968 ở cùng khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ cách nhà S khoảng 800m, S đứng ở bờ ruộng cách nhà bà V khoảng 30 - 40m, dùng đèn pin soi về phía cửa bếp nhà bà V, nhìn thấy cánh cửa bếp ra sân sau mở hé, nên S có ý định lẻn vào nhà bà V trộm cắp đồ ăn vặt vì nhà bà V bán hàng tạp hóa. S đi đến gần tường rào bằng gạch xây cách cửa nhà bếp khoảng 05m, dùng đèn pin soi về phía cánh cửa bếp để xem có đúng cửa mở không, thấy cửa mở hé khoảng 15 - 20cm, S dùng tay bám vào tường gạch cao khoảng 1,5m trèo vào sân sau nhà bà V, dùng tay đẩy nhẹ cánh cửa nhà bếp có gài thanh chắn cửa đi vào trong nhà. S đi vào nhà bếp rồi đi lên khu vực quầy tạp hóa đặt ở gần cửa ra vào nhà ở để lấy đồ ăn vặt, nhưng khi vào trong nhà bà V không thấy ai ở nhà, lúc này S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản có giá trị. S dùng đèn pin soi và quay lại bếp đi vào phòng ngủ giáp với bếp, cạnh phòng khách, thấy có 01 chiếc tủ tôn đựng quần áo, S lấy tay mở hai cánh tủ tôn ra, nhìn thấy ở ngăn cuối cùng bên trái có cánh cửa, S mở ra thấy có 02 con lợn tiết kiệm làm bằng sứ và đất, S lấy ra ngoài cầm lên lắc xem bên trong có tài sản hay không, trong đó có 01 con lợn tiết kiệm làm bằng đất màu vàng có tiền tài sản bên trong, con lợn còn lại không có nên S để lại ngăn tủ. S tiếp tục kiểm tra ngăn tủ bên cạnh, thấy có 01 con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa màu đỏ, S kiểm tra xem bên trong có tài sản hay không, sau khi xác định có tài sản, S cầm 02 con lợn tiết kiệm nói trên đi sang phòng ngủ để trên nền nhà, đi xuống bếp lấy 01 con dao loại dao thái ở bếp đựng trong giỏ nhà bà V để đập con lợn đất màu vàng và rạch con lợn nhựa màu đỏ và S lấy đi toàn bộ số tiền bên trong 02 con lợn tiết kiệm rồi đúc vào túi quần S đang mặc (trong đó con lợn tiết kiệm làm bằng sứ có số tiền là: 2.800.000đ; con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa màu đỏ có số tiền khoảng 200.000đ) và cất con dao để lại vị trí cũ. Sau đó, S quay ra phòng khách ý định lấy bao thuốc lá hút, nhưng khi đến tủ kính bán hàng tạp hóa có ba tầng, S thấy ở tầng trên cùng có túi nilon đựng thẻ cào điện thoại nên tìm cách để lấy, do tủ kính khóa không lấy được, S phát hiện tấm kính ở cánh cửa tầng hai bị hở, S dùng hai tay cạy tấm kính, kéo ra thì tấm kính nứt vỡ, vì thẻ cào điện thoại để ở ngăn trên cùng vướng tấm kính cửa, nên S đi vào phòng ngủ lấy 01 móc quần áo bằng kim loại, bẻ thẳng và để một đầu thành móc, S luồn qua khe cửa kính móc túi nilon lấy trộm toàn bộ số thẻ cào điện thoại Viettell (Gồm mệnh giá thẻ là 20.000đ; mệnh giá 50.000đ và mệnh giá 100.000đ) với tổng trị giá 4.500.000đ. Sau khi trộm cắp được tài sản của bà V, S đi ra theo hướng nhà bếp, trèo qua tường rào và đi về nhà. S sử dụng toàn bộ số thẻ cào điện thoại Viettel trộm cắp được để nạp vào tài khoản G và chơi hết số tiền trên thẻ cào. Còn số tiền 3.000.000đ trong 02 con lợn tiết kiệm S sử dụng để ăn tiêu cá nhân, còn lại số tiền 1.500.000đ, S đưa cho bạn gái là chị Hà Phương M giữ hộ. Sau khi bị phát hiện bị kẻ gian trộm cắp tài sản, bà Phan Thị V đã làm đơn tố giác gửi đến Công an xã M và Công an huyện T đề nghị giải quyết vụ việc và xử lý đối tượng theo quy định của pháp luật.
Sau khi nhận được đơn tố giác của bà Phan Thị V, ngày 13/05/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiến hành xác minh hiện trường, thu thập các tài liệu, chứng cứ theo quy định và triệu tập đối tượng Phùng Thanh S đến làm việc.
Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo đã khai nhận toàn bộ các hành vi chiếm đoạt tài sản của mình như đã nêu trên.
b) Các vấn đề khác của vụ án:
Ngày 29/05/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Phùng Thanh S về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Ngày 18/07/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với vật chứng đã thu giữ theo quy định. Tại kết luận định giá tài sản số: 19/KL- ĐGTS ngày 23/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện T kết luận: 01 con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa màu đỏ trị giá: 0đ; 01 con lợn tiết kiệm làm bằng đất màu vàng trị giá: 0đ; 01 tấm kính thủy tinh kích thước 30 x 50cm, dày 2,5cm trị giá: 0đ.
Về phần dân sự: Ngày 21/7/2024, ông Phùng Văn H là Bố đẻ Bị cáo Phùng Thanh S đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại là bà Phan Thị V số tiền 8.000.000đ. Nay bà V không yêu cầu bị cáo S phải bồi thường gì thêm về mặt dân sự, đồng thời bà V cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
Về tài sản của Bị cáo: Quá trình xác minh xác định Bị cáo Phùng Thanh S, sống cùng bố mẹ tại khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Bản thân Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị.
Về vật chứng của vụ án:
- - 01 chiếc đèn pin, màu vàng, đen đã qua sử dụng; 01 chiếc áo len dài tay màu đen, khóa bằng kim loại áo đã cũ; 01 chiếc quần màu trắng đã cũ; 01 con dao dài 40 cm, loại dao thái mũi nhọn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một lưỡi sắc đã qua sử dụng; 01 con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; Nhiều mảnh vỡ dạng sành sứ, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mảnh vỡ từ 01 con lợn tiết kiệm làm bằng đất; Nhiều mảnh kính thủy tinh không màu vỡ không rõ hình dạng và 01 thanh kim loại dài 80 cm.
- - Số tiền 1.500.000đ mà Phùng Thanh S trộm cắp được của bà Phan Thị V, sau đó đưa cho bạn gái là chị Hà Phương M giữ hộ. Quá trình điều tra, chị M đã tự nguyện nộp lại, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T trả lại cho bà Phan Thị V.
c) Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát: Tại Bản cáo trạng số: 25/CT-VKSTS ngày 13/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Phùng Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015;
- Xử phạt Bị cáo Phùng Thanh S từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày Bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 31/5/2024.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Phùng Thanh S.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, đã được bồi thường và không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.
- Về xử lý vật chứng: - 01 chiếc đèn pin, màu vàng, đen đã qua sử dụng; 01 chiếc áo len dài tay màu đen, khóa bằng kim loại áo đã cũ; 01 chiếc quần màu trắng đã cũ; 01 con dao dài 40 cm, loại dao thái mũi nhọn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một lưỡi sắc đã qua sử dụng; 01 con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; Nhiều mảnh vỡ dạng sành sứ, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mảnh vỡ từ 01 con lợn tiết kiệm làm bằng đất; Nhiều mảnh kính thủy tinh không màu vỡ không rõ hình dạng và 01 thanh kim loại dài 80 cm đề nghị tịch thu tiêu hủy. >
- - Số tiền 1.500.000đ mà Phùng Thanh S trộm cắp được của bà Phan Thị V, sau đó đưa cho bạn gái là chị Hà Phương M giữ hộ. Xác nhận, trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho bà V là chủ sở hữu hợp pháp vào ngày 29/5/2024.
- Về án phí: Bị cáo Phùng Thanh S được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
d) Quan điểm người bào chữa Bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho Bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
đ) Quan điểm người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đồng ý với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
e) Quan điểm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị M, ông H: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
f) Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo, Người bào chữa cho Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà hôm nay, Bị cáo Phùng Thanh S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của Bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 15 phút, ngày 20 tháng 04 năm 2024, Phùng Thanh S trú tại khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi trộm cắp tài sản của bà Phan Thị V trú tại khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 3.000.000đ và thẻ cào điện thoại V1 trị giá: 4.500.000đ để chơi Game và ăn tiêu cá nhân. Như vậy, tổng số tiền mà S chiếm đoạt của bà V là: 7.500.000đ.
Bị cáo đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng vì mục đích vụ lợi nên cố ý thực hiện. Hành vi của Bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.
Tại khoản 1 Điều 173 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
- - Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- - Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử về hành vi phạm tội tương tự và chưa được xóa án tích, song lại không lấy đó là bài học cho bản thân mà tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đến nay chưa được xóa án tích. Do vậy, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Phùng Thanh S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại là bà Phan Thị V với số tiền là 8.000.000đ. Ngoài ra, ngày 21/7/2024, bà Phan Thị V đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo. Do đó, Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh của cơ quan CSĐT Công an huyện T thì Bị cáo sống phụ thuộc vào bố mẹ, không có tài sản riêng. Vì vậy, cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của Bị cáo không những làm ảnh hưởng tới tình hình trật tự trị an tại địa phương mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người dân. Do đó, cần xử Bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức khởi điểm theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Đối với hành vi đập vỡ 01 con lợn tiết kiệm làm bằng đất, rạch hỏng 01 con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa và làm vỡ 01 tấm kính của Phùng Thanh S, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với S về hành vi trên là phù hợp.
Đối với chị Hà Phương M, sinh năm: 2007, thường trú: xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là bạn gái của S) có mặt ở nhà S trong ngày S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng chị M không biết và S không nói việc S đi trộm cắp tài sản. Sau khi S trộm cắp được tiền của bà V đã đưa cho chị M 1.500.000đ, nhưng chị M không biết nguồn gốc số tiền trên do S trộm cắp được mà có và chị M đã tự nguyện nộp lại số tiền: 1.500.000đ cho Cơ quan điều tra. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T không đề cập xử lý mà giáo dục, nhắc nhở đối với chị M là phù hợp.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 1.500.000đ mà Phùng Thanh S trộm cắp được của bà Phan Thị V, sau đó đưa cho bạn gái là chị Hà Phương M giữ hộ. Quá trình điều tra, chị M đã tự nguyện nộp lại, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho bà V là chủ sở hữu hợp pháp vào ngày 29/5/2024 là phù hợp.
Đối với 01 chiếc đèn pin, màu vàng, đen có gắn một dây đai bằng vải chun màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc áo len dài tay màu đen, khóa bằng kim loại, hai bên cánh tay áo có mảnh vải màu vàng nâu có hoa văn chạy dọc theo tay áo đã cũ; 01 chiếc quần, loại quần ngủ màu đen, quần chun, gấu quần màu trắng đã cũ; 01 con dao dài 40 cm, loại dao thái mũi nhọn, lưỡi dao băng kim loại màu trắng, có một lưỡi sắc, chuôi dao bằng gỗ màu đen đã qua sử dụng; 01 con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa màu đỏ, trên thân lợn có một đường rạch, rách đã qua sử dụng; Nhiều mảnh vỡ dạng sành sứ, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mảnh vỡ từ 01 con lợn đất tiết kiệm; Nhiều mảnh kính thủy tinh không màu vỡ không rõ hình dạng và 01 thanh kim loại dài 80 cm, một đầu được uốn cong. Đây là vật chứng không có giá trị và không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[5] Về án phí: Gia đình Bị cáo S là hộ cận nghèo tại địa phương nên Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định là phù hợp.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ kết tội, tội danh:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015;
Tuyên bố Bị cáo Phùng Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Xử phạt Bị cáo Phùng Thanh S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 31/5/2024.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Phùng Thanh S.
- Trách nhiệm dân sự:
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015. Xác nhận ngày 21/7/2024 ông Phùng Văn H là Bố đẻ Bị cáo Phùng Thanh S đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại là bà Phan Thị V số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu để tiêu huỷ: 01 chiếc đèn pin, màu vàng, đen đã qua sử dụng; 01 chiếc áo len dài tay màu đen, khóa bằng kim loại áo đã cũ; 01 chiếc quần màu trắng đã cũ; 01 con dao dài 40 cm, loại dao thái mũi nhọn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một lưỡi sắc đã qua sử dụng; 01 con lợn tiết kiệm làm bằng nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; Nhiều mảnh vỡ dạng sành sứ, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mảnh vỡ từ 01 con lợn tiết kiệm làm bằng đất; Nhiều mảnh kính thủy tinh không màu vỡ không rõ hình dạng và 01 thanh kim loại dài 80cm.
- - Xác nhận ngày 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho bà Phan Thị V số tiền 1.500.000đ, là số tiền mà Phùng Thanh S trộm cắp được, sau đó đưa cho bạn gái là chị Hà Phương M giữ hộ.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo Phùng Thanh S.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Chí |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sơn trộm cắp TS của bà V
