|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 26 – 4 – 2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quách Thị Hồng Ngọc
Ông Nguyễn Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 391/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phi L, sinh năm 1988
Địa chỉ: Số H, ấp H, L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp
Bị đơn: Anh Huỳnh Hải H, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số D, đường H, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
(Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh H)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phi L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị L và anh H sau thời gian tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau vào năm 2013, không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn vào ngày 14/02/2017 tại U, thành phố S. Sau kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, anh H không tin tưởng chị L, thường hay nghi ngờ ghen tuông vô cớ. Dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, gây gỗ. Nhiều lần anh H cầm dao đe dọa tính mạng chị L. Tháng 10/2023 chị L có nộp đơn yêu cầu ly hôn, quá trình giải quyết anh H hứa sửa đổi nên chị L rút đơn cho anh H cơ hội hàn gắn. Tuy nhiên sau đó vợ chồng cũng không hạnh phúc, chị L đi làm về muộn, anh H vẫn nghi ngờ ghen tuông. Do đó, từ tháng 10/2023 đến nay chị L dọn ra ngoài sống riêng và vợ chồng ly thân. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, chị L yêu cầu ly hôn anh H.
- Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Hải H1, sinh ngày 18/6/2019, hiện sống chung với anh H. Sau ly hôn chị L đồng ý để anh H tiếp tục nuôi con, chị L cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, mỗi tháng bằng 50% mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
* Về phí bị đơn anh Huỳnh Hải H đã ký nhận được thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử do Tòa án tống đạt trực tiếp, nhưng anh H vắng mặt, cũng không đến phiên tòa, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Nguyễn Thị Phi L có đơn khởi kiện ly hôn với anh Huỳnh Hải H, anh H có địa chỉ tại Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Huỳnh Hải H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung vụ án.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Phi L Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị L và anh H chung sống vào năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/02/2017 tại U, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị L trình bày sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống, tính tình không phù hợp, anh H luôn nghi ngờ không tin tưởng chị L và ghen tuông vô cớ dẫn đến cự cãi thậm chí còn có hành vi bạo lực gia đình. Trước đây chị L cũng đã từng khởi kiện yêu cầu ly hôn nhưng sau đó rút đơn để vợ chồng hàn gắn. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng chung sống cũng không hạnh phúc, anh H vẫn không tin tưởng chị L.
Về phía anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, đã biết việc chị L yêu cầu ly hôn nhưng không có văn bản trình bày ý kiến. Bản thân anh H cũng không có mong muốn hàn gắn tình cảm với chị L nên đã không đến Tòa án để tham gia hòa giải, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình.
Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm, vợ chồng cũng đã sống ly thân . Do đó, xét thấy việc chị L yêu cầu ly hôn anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Chị L và anh H chung sống có 01 con chung tên Huỳnh Hải H1, sinh ngày 18/6/2019, hiện đang sống với anh H. Sau ly hôn, chị L đồng ý giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, việc chị L đồng ý giao con cho anh H nuôi dưỡng, anh H cũng không có ý kiến phản đối. Hơn nữa, từ khi ly thân đến nay cháu H1 sống với anh H, để sự ổn định về tâm sinh lý cho cháu, nên giao cháu H1 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chị L có quyền nghĩa vụ đến thăm con, không ai được quyền cản trở.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi: Chị L đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, mỗi tháng bằng 50% mức lương cơ sở. Xét thấy việc chị L đồng ý cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi tháng bằng 50% mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án (29/3/2024) cho đến khi con đủ 18 tuổi.
[3.4] Về tài sản chung và nghĩa vụ nợ chung: Chị L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Chị L phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 31, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phi L về việc yêu cầu ly hôn. Cho chị Nguyễn Thị Phi L và anh Huỳnh Hải H ly hôn.
2. Về nuôi con chung:
- - Anh Huỳnh Hải H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Hải H1, sinh ngày 18/6/2019, hiện đang sống với anh H.
- - Chị Nguyễn Thị Phi L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng bằng 50% mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án (29/3/2024) cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- - Chị Nguyễn Thị Phi L có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Phi L và anh Huỳnh Hải H không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí:
- - Chị Nguyễn Thị Phi L phải chịu toàn bộ án phí (về ly hôn) là 300.000đ và 300.000đ án phí (về cấp dưỡng nuôi con). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị Nguyễn Thị Phi L đã nộp ngày 18/12/2023 theo biên lai thu số 0003864 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phí phải nộp. Chị Nguyễn Thị Phi L còn phải nộp tiếp số tiền là 300.000đ
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị T |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L yêu cầu ly hôn anh H
