Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 26-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Trần Thị Thanh Thủy
    2. Bà Đặng Thị Hiền Thục
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
  • Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thế D; sinh ngày: 01/01/1984 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 180/3 Khu phố D, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: 180/3 Khu phố D, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ bạc; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thế H và bà: Trịnh Thị B; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q.

(Bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Trịnh Thị B, sinh năm 1966 (có mặt)

Địa chỉ: 1 Khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, Công an P, Quận A phối hợp Công an Q tiến hành kiểm tra hành chính Phòng 305, Khách sạn N, địa chỉ số D đường T, Phường A, Quận A, có Nguyễn Thế D đang lưu trú. Qua kiểm tra, phát hiện, thu giữ: trên nền nhà sát tường phía cuối giường ngủ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) nỏ thủy tinh; ngay công tắc điện ở cửa ra vào 01 (một) tờ vé số gấp lại, bên trong 01 (một) miếng băng keo giấy màu trắng, trên mặt băng keo có ghi chữ "A. D”, bên trong băng keo có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể. Bị cáo D khai nhận số tinh thể là ma túy tổng hợp của D, cất giữ để sử dụng. Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thế D chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định tinh thể không màu đã thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số 12029/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 0,1531gram, loại Methamphetamine".

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Thế D khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 09/10/2024, bị cáo Duy trú mưa tại hầm chui Quốc lộ A, khu phố B, phường L, Thành phố T thì nhìn thấy 01 (một) bao thuốc lá hiệu Jet Duy nhặt lên xem thấy bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy và 01 (một) nỏ thủy tinh. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D nhặt gói ma tuý và nỏ thuỷ tinh giấu. Đến khoảng 16 giờ ngày 09/10/2024 D đến thuê phòng tại Khách sạn N để sử dụng ma túy. D đã sử dụng một ít ma túy rồi đi ngủ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/10/2024 trong lúc D đang ở trong phòng 305 Khách sạn N thì bị Công an kiểm tra thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Kết quả giám định nước tiểu của Nguyễn Thế D “Dương tính” với chất ma túy (MET).

Tài sản, vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) gói vật chứng đã được niêm phong, bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thế D và hình dấu Công an P, Quận A.
  • 01 (một) tờ vé số gấp lại, 01 (một) miếng băng keo giấy màu trắng có in chữ "A.Duy".
  • 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống hút nhựa, 01 (một) nỏ thủy tinh.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone có số imei: 359287060746922 và có số thuê bao: 0934060161.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead có biển số: 60B8-09459, có số khung: RLHJF240XBY040986 và có số máy: JF24E0556569. Kết quả giám định xe có số khung, số máy: Không bị đục lại số. Qua xác minh xe do ông Nguyễn Ngọc H1 đứng tên đăng ký xe. Ông H1 khai, tháng 12/2021 ông H1 đã bán lại xe máy trên cho người không rõ lai lịch và không có làm giấy tờ mua bán. Kết quả tra cứu xác định xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Bị cáo D khai xe là của mẹ bị cáo, bà Trịnh Thị Bích . Ngày 09/10/2024, D hỏi mượn xe trên của bà B để đi công việc của D. Bà Trịnh Thị B khai, ngày 15/06/2023 bà B mua lại xe máy trên của Đào Minh V, ông V chỉ làm giấy tay mua bán xe, chưa có xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền; Ngày 09/10/2024, D hỏi mượn xe đi công việc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đào Minh V khai: Vào tháng 05/2024, ông V có mua lại xe mô tô trên (không làm giấy tờ mua bán) và sửa lại để bán kiếm lời; Ngày 15/6/2023 ông V là người bán lại xe máy biển số 60B8-094.59 cho bà B với giá 7.800.000 đồng chỉ làm giấy bán tay chưa làm giấy tờ sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có ai đến làm việc.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển các vật chứng trên đến Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSQ10 ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Nguyễn Thế D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Tại phiên tòa bà Trịnh Thị B trình bày bà là người mua chiếc xe mô tô biển số 60B8-09459 của ông V, việc con bà là Nguyễn Thế D sử dụng xe đi sử dụng ma túy bà B hoàn toàn không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bà được nhận lại chiếc xe trên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Thế D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
  • Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
  • Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thế D đã có hành vi cất giữ trái phép 0,1531g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Do vậy, bị cáo Nguyễn Thế D bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) gói vật chứng đã được niêm phong, bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thế D và hình dấu Công an P, Quận A. Xét thấy đây là vật chứng cấm lưu hành do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (một) tờ vé số gấp lại, 01 (một) miếng băng keo giấy màu trắng có in chữ "A.Duy". Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến vụ án, nhưng không có giá trị do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống hút nhựa, 01 (một) nỏ thủy tinh. Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến vụ án, nhưng không có giá trị do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone có số imei: 359287060746922 và có số thuê bao: 0934060161 thu giữ của bị cáo nhưng không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead có biển số: 60B8-09459, có số khung: RLHJF240XBY040986 và có số máy: JF24E0556569. Kết quả giám định xe có số khung, số máy: không bị đục lại số. Qua xác minh xe do ông Nguyễn Ngọc H1 đứng tên đăng ký xe. Ông H1 khai, tháng 12/2021 ông H1 đã bán chiếc xe trên cho người không rõ lai lịch. Bị cáo D khai chiếc xe trên là của mẹ bị cáo. Ngày 09/10/2024, bị cáo D mượn chiếc xe trên của mẹ bị cáo để đi công việc. Bà Trịnh Thị B khai, ngày 15/06/2023 bà B mua lại xe máy trên của Đào Minh V, ông V chỉ làm giấy tay mua bán xe, chưa có xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền; Ngày 09/10/2024, bị cáo D hỏi mượn xe đi công việc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đào Minh V khai: Vào tháng 05/2024, ông V có mua lại xe mô tô trên (không làm giấy tờ mua bán) và sửa lại để bán kiếm lời; Ngày 15/6/2023 Ông V là người bán lại xe máy biển số 60B8-094.59 cho bà B với giá 7.800.000 đồng và làm hợp đồng mua bán giấy tay chưa làm giấy tờ sang tên. Xét thấy chiếc xe trên là của bà Trịnh Thị B, bị cáo mượn chiếc xe trên làm phương tiện đi lại bà B không biết, mặt khác chiếc xe trên hiện không có trong dữ liệu vật chứng của vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe mô tô biển số 60B8-09459 cho bà Trịnh Thị Bích .

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào điểm c khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thế D.

Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) gói vật chứng đã được niêm phong, bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thế D và hình dấu Công an P, Quận A; 01 (một) tờ vé số gấp lại, 01 (một) miếng băng keo giấy màu trắng có in chữ "A.Duy"; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống hút nhựa, 01 (một) nỏ thủy tinh.

Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone có số imei: 359287060746922 và có số thuê bao: 0934060161 cho bị cáo Nguyễn Thế D.

Trả lại chiếc xe mô tô biển số: 60B8-09459, có số khung: RLHJF240XBY040986 và có số máy: JF24E0556569, nhãn hiệu Honda, số loại: Lead, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3; màu sơn: nâu đen, dung tích xi lanh: 108 cm3 cho bà Trịnh Thị Bích .

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/02/2025 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Nguyễn Thế D chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Q.10; (2)
  • - Công an Q.10; (2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế DUy phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger