TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM Bản án số: 25/2024/HSPT Ngày 25/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Vân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho và ông Trần Tỷ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hồng Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo Trần Anh T, kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXPT-HS ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đối với:
Bị cáo kháng cáo Trần Anh T (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 30/12/1982 tại tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Tổ E, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Trần Công H, sinh năm 1951 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1951; bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Tú T1, sinh năm 1987 (Đã ly hôn) và có một con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 04/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai, tuyên phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, Trần Anh T điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 82B-006.40 đến xã Đ, huyện Đ, đón khách hợp đồng đi tỉnh Gia Lai. Sau khi đón khách, T điều khiển xe ôtô lưu thông trên đường H theo hướng huyện Đ đi thành phố K ở làn đường dành cho xe cơ giới với tốc độ khoảng 50km/h. Đến khoảng 13 giờ 59 phút, khi đến km1534+350 đoạn thuộc thôn E, xã H, huyện Đ, T vừa điều khiển xe vừa sử dụng điện thoại di động để vào ứng dụng Google Map tìm địa chỉ nơi khách đến. T sử dụng hai bàn tay để mở điện thoại còn hai cẳng tay tì vào vô lăng xe để điều khiển và mắt quan sát vào điện thoại. Khi đến đoạn đường xuống dốc, có khúc cua vòng bên phải, do sử dụng điện thoại không chú ý quan sát, xe ôtô do T điều khiển đã tông vào bà Mai Thị N và bà Lê Thị B là công nhân thuộc Trung tâm Môi trường và dịch vụ đô thị huyện Đ đang dọn vệ sinh gần giải phân cách cố định. Hậu quả: bà Mai Thị N tử vong, bà Lê Thị B bị tổn thương cơ thể 61 %, xe ôtô bị hư hỏng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum đã ra quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh T 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/8/2024 bị cáo Trần Anh T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, bị cáo Trần Anh T xin bổ sung nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo có cơ hội nuôi cha mẹ già và chăm sóc con.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình; khi xảy ra tai nạn bị cáo đưa người bị nạn đi cấp cứu. Xét thấy, đây là tài liệu, chứng cứ mới để xem xét cho bị cáo. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo và xử phạt bị cáo 36 tháng cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm đến ngày 14/8/2024, bị cáo Trần Anh T kháng cáo xin được hưởng án treo. Đơn kháng cáo được làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Vào khoảng 13 giờ 59 phút ngày 23/9/2023, Trần Anh T điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 82B-006.40 lưu thông theo hướng huyện Đ đi thành phố K đến đoạn km1534+350 trên Quốc lộ A thuộc thôn E, xã H, huyện Đ, ở làn đường xe cơ giới với tốc độ khoảng 50km/h. T dùng hai bàn tay bấm mở điện thoại di động, còn hai cẳng tay tì vào vô lăng xe để điều khiển xe, đoạn đường xuống dốc, có khúc cua vòng bên phải, không chú ý quan sát, đã tông vào bị hại. Hậu quả: bà Mai Thị N tử vong, bà Lê Thị B bị tổn thương cơ thể 61% và xe ô tô hư hỏng.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Anh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo.
Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại cho các bị hại; gia đình các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nuôi cha mẹ già, có con nhỏ trong độ tuổi đi học (bị cáo đã ly hôn vợ).
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo thật sự ăn năn hối cải; cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình; khi xảy ra tai nạn bị cáo đưa người bị nạn đi cấp cứu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới áp dụng cho bị cáo được hưởng. Xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết cách ly khỏi xã hội, để bị cáo nuôi cha mẹ già và con đang độ tuổi đi học; bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum về phần hình phạt của bị cáo, do có tình tiết giảm nhẹ mới.
[5] Bị cáo có nghề nghiệp là lái xe thuê nên thu nhập không ổn định đồng thời còn phải nuôi cha mẹ già và con nhỏ. Vì vậy, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Anh T. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum về phần hình phạt của bị cáo.
2. Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
3. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Anh T 36 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố K nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Anh T cho Ủy ban nhân dân phường D, T, tỉnh Kon Tum để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Anh T không phải chịu án phí.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về các vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HĐXX PHÚC THẨM – TAND TỈNH KON TUM |
Bản án số 25/2024/HSPT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 25/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Anh Tuấn
