|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hữu Hiển
Các Hội thẩm nhân dân:
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Mai Hương Giang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/6 /2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 108/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 (có mặt)
Trú tại: Thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991 (có mặt).
Trú tại: Thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1961; trú tại: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
2. Ông Đỗ Viết T3, sinh năm 1937; trú tại: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh T kết hôn với chị Nguyễn Thị T1 vào ngày 20/11/2009 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Sau khi cưới, vợ chồng sống sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau. Nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị giải quyết ly hôn với chị T1.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 27/01/2011, Nguyễn Bảo Thiên P, sinh ngày 12/6/2017 và Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 30/11/2015, hiện đang sống cùng anh T. Vợ chồng ly hôn, anh T xin nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo Thiên P và Nguyễn Thị Ngọc Á. Anh T đồng ý để chị T1 nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tiến Đ, không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về công nợ: Vợ chồng có nợ ông Đỗ Viết T3 23 chỉ vàng tương đương với số tiền 180.550.000 đồng và bà Đỗ Thị T2 số tiền 150.000.000 đồng. Anh T đồng ý trả cho ông T3 số tiền 90.275.000 đồng và trả cho bà T2 75.000.000 đồng.
* Bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 trình bày: Chị công nhận lời khai của anh T về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn là đúng.
Chị T1 xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Nguyên nhân anh T làm đơn ly hôn là do anh T ngoại tình với người phụ nữ khác. Trong cuộc sống gia đình chị T1 luôn làm tròn trách nhiệm đối với chồng, với con và trách nhiệm của người con dâu hiếu thảo. Anh T làm đơn xin ly hôn chị T1, chị T1 không đồng ý. Chị T1 đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung như anh T trình bày là đúng, hiện nay con chung đang ở cùng chị T1. Nếu vợ chồng buộc phải ly hôn, chị T1 xin nuôi cả 03 con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng/1 tháng đối với mỗi con chung.
Về tài sản chung: Chị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Vợ chồng có nợ ông Đỗ Viết T3 23 chỉ vàng tương đương với số tiền 180.550.000 đồng và bà Đỗ Thị T2 số tiền 150.000.000 đồng. Chị T1 đồng ý trả cho ông T3 số tiền 90.275.000 đồng và trả cho bà T2 75.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị T2 trình bày: Ngày 18/3/2012, bà cho vợ chồng anh T, chị T1 vay số tiền 150.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận bằng miệng về thời hạn vay tiền là 01 năm kể từ ngày cho vay. Đến hạn thanh toán, anh T, chị T1 không trả tiền cho bà. Nay bà T2 yêu cầu anh T, chị T1 phải trả cho bà số tiền 150.000.000 đồng, bà không yêu cầu tiền lãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Viết T4 trình bày: Năm 2012 - 2013, ông cho vợ chồng anh T, chị T1 vay 23 chỉ vàng tương đương với số tiền 180.550.000 đồng. Hai bên thỏa thuận bằng miệng về thời hạn vay tiền là 01 năm kể từ ngày cho vay. Đến hạn thanh toán, anh T, chị T1 không trả tiền cho bà. Nay ông T3 yêu cầu anh T, chị T1 phải trả cho ông số tiền 180.550.000 đồng, ông không yêu cầu tiền lãi.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Anh T xác định không còn tình cảm với chị T1, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh T được ly hôn với chị T1.
- Chị T1 xác định vẫn còn tình cảm với anh T, nguyên nhân anh T xin ly hôn là do anh T có quan hệ ngoại tình, đề nghị Hội đồng xét xử hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ: Anh T, chị T1 đều giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc xin ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.
+ Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 trú tại thôn T, thị trấn C, tỉnh Bắc Ninh, do vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Anh Nguyễn Văn T kết hôn với chị Nguyễn Thị T1 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Xét thấy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống phía anh T xác định anh T không còn tình cảm với chị T1, anh T không thể tiếp tục chung sống với chị T1, anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn chị T1.
Phía chị T1 cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Nguyên nhân anh T xin ly hôn là do anh T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, chị T1 không đồng ý ly hôn với anh T.
Hội đồng xét xử thấy nguyên nhân anh T xin ly hôn với chị T1 là do anh T có quan hệ ngoại tình, giữa anh T, chị T1 không có mâu thuẫn gì lớn, vợ chồng vẫn có thể chung sống được với nhau. Phía gia đình anh T và địa phương cung cấp thì chị T1 là người chịu thương chịu khó, yêu thương chồng con, có trách nhiệm với gia đình, được lòng mọi người, do vậy không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T mà cần xử bác đơn ly hôn của anh T để vợ chồng về đoàn tụ.
Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về con chung, tài sản chung, nợ chung của vợ chồng anh T, chị T1.
Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ điều 235, 264, 266, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
- Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc xin ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.
- Về con chung: Không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 02395, ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Hữu Hiển |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thị Tâm - Ly hôn
