TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2023/KDTM-ST
Ngày: 25-8-2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Duyên
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thanh Trúc;
2/ Ông Võ Tấn Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Bảo Trân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2022/TLST-KDTM ngày 13/12/2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1120/2023/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 1254/2023/QĐST-KDTM ngày 08 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V
Địa chỉ: Tầng D - Tầng E Tòa nhà S số A Đường C, phường Y, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền:
- - Ông Nguyễn Huy H – sinh năm 1997
- - Bà Ngô Hồng K – sinh năm 1981
Cùng địa chỉ: 1 Đường N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn K1
Địa chỉ: 2 Đường L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Uông Trường G – sinh năm 1974
Địa chỉ: 2 Đường L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 8 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Ngô Hồng K và ông Nguyễn Huy H trình bày:
Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 (sau đây viết tắt là Công ty K1) đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần V (sau đây viết tắt là Ngân hàng V) 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- Hợp đồng tín dụng thứ 1: Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-083/16/VAB/HĐTDHDTN ngày 21/9/2016 và Phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 335-083/16/VAB/HĐTDTDHDN-PL01 ngày 07/10/2016.
- + Số tiền cho vay: 1.950.000.000 đồng.
- + Mục đích vay vốn: Mua 02 xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ;
- + Thời hạn cho vay: 48 tháng;
- + Lãi suất cho vay: Trong hạn: 12 tháng đầu cố định 7%/năm. Các tháng tiếp theo sau thời gian ưu đãi: Lãi suất huy động tiết kiệm cao nhất bằng VNĐ 12 tháng KHCN, trả lãi cuối kỳ của V1 công bố + 4,08%/năm.
- + Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay.
Phương thức trả nợ: Trả lãi vào ngày 20 hàng tháng, trả nợ gốc vào ngày 20 hàng tháng với số tiền 41.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ ngày 20/10/2016. Công ty K1 đã được giải ngân vào ngày 21/9/2016 theo Giấy nhận nợ ngày 21/9/2016.
Thực hiện hợp đồng, Công ty K1 đã trả được nợ gốc là: 1.004.915.622 đồng, lãi đã trả là 267.246.251 đồng. Công ty K1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 20/9/2018.
Tính đến ngày 25/8/2023, Công ty K1 còn nợ tổng cộng số tiền là 1.644.748.575 đồng trong đó nợ gốc là 945.084.378 đồng, nợ lãi trong hạn 101.813.043 đồng, nợ lãi quá hạn là 577.851.154 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nói trên gồm:
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 6540 biển số 51D-042.37 Số máy: 0300F2783723, Số khung: 400KF1325376; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 203458 cấp ngày 17/9/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 6540 biển số 51D-042.93 Số máy: 0300F2783729, Số khung: 400KF1325392; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 203457 cấp ngày 17/9/2016;
Theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/HĐTC ngày 21/9/2016 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/TCOTO-PL01 ngày 07/10/2016 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngay 21/9/2016.
- Hợp đồng tín dụng thứ 2: Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-093/16/VAB/HĐTDHDN ngày 31/10/2016.
- + Số tiền cho vay: 3.700.000.000 đồng.
- + Mục đích vay vốn: Mua 04 xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ;
- + Thời hạn cho vay: 48 tháng;
- + Lãi suất cho vay: Trong hạn: 12 tháng đầu cố định 7%/năm. Các tháng tiếp theo sau thời gian ưu đãi: Lãi suất huy động tiết kiệm cao nhất bằng VNĐ 12 tháng KHCN, trả lãi cuối kỳ của V1 công bố + 4,08%/năm.
- + Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay.
Phương thức trả nợ: Trả lãi vào ngày 01 hàng tháng, trả nợ gốc vào ngày 01 hàng tháng với số tiền 78.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ ngày 01/12/2016. Công ty K1 đã được giải ngân vào ngày 04/11/2016 theo Giấy nhận nợ ngày 04/11/2016.
Thực hiện hợp đồng, Công ty K1 đã trả được nợ gốc là: 1.716.000.000 đồng, lãi đã trả là 470.645.989 đồng. Công ty K1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 20/9/2018.
Tính đến ngày 25/8/2023, Công ty K1 còn nợ tổng cộng số tiền là 3.458.574.728 đồng trong đó nợ gốc là 1.984.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 236.939.611 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.237.635.117 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nói trên gồm:
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 6540 biển số 51D-060.23 Số máy: 0300F2784014, Số khung: 400KF1325400; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219498 cấp ngày 29/10/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 65115 biển số 51D-061.18 Số máy: 0620G2798261, Số khung: 1153G1332944; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219500 cấp ngày 29/10/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 65115 biển số 51D-061.83 Số máy: 0620G2798204, Số khung: 1153G1332920; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219501 cấp ngày 29/10/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 65115 biển số 51D-0601.35 Số máy: 0620G2801265, Số khung: 1153G2470256; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219499 cấp ngày 29/10/2016;
Theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC ngày 31/10/2016 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC/SĐBS-01 ngày 18/11/2016 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/11/2016.
Tính đến ngày 25/8/2023, Công ty K1 còn nợ số tiền tổng cộng của hai hợp đồng tín dụng là 5.103.323.303 đồng trong đó nợ gốc là 2.929.084.378 đồng, nợ lãi trong hạn là 338.752.654 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.835.486.271 đồng.
Do Công ty K1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V từ ngày 20/9/2018 đến nay. Vì vậy, Ngân hàng V yêu cầu Công ty K1 trả cho Ngân hàng V số tiền tính đến ngày 25/8/2023 tổng cộng của 02 hợp đồng tín dụng là: 5.103.323.303 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 26/8/2023 theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-083/16/VAB/HĐTDHDTN ngày 21/9/2016, Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-093/16/VAB/HĐTDHDN ngày 31/10/2016, các Phụ lục hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ cho đến ngày trả hết nợ.
Trường hợp Công ty K1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền gốc, tiền lãi thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/HĐTC ngày 21/9/2016; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/TCOTO-PL01 ngày 07/10/2016 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC ngày 31/10/2016; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC/SĐBS-01 ngày 18/11/2016 để thu hồi nợ.
Nếu số tiền phát mại các tài sản thế chấp không đủ trả hết khoản nợ của Công ty K1 tại Ngân hàng V, thì Công ty K1 phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V cho đến khi trả hết khoản nợ.
Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 không có cử người đại diện và ông Uông Trường G là người đại diện theo pháp luật của bị đơn cũng vắng mặt và không có gửi văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua phần tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có trụ sở tại huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 không có cử người đại diện và ông Uông Trường G là người đại diện theo pháp luật của bị đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 không có cử người đại diện và ông Uông Trường G là người đại diện theo pháp luật của bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.3] Xét Giấy ủy quyền của nguyên đơn ủy quyền cho bà Ngô Hồng K và ông Nguyễn Huy H đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án là hợp lệ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
[2.1] Đối với yêu cầu Tòa án buộc Công ty K1 trả tổng cộng số tiền tính đến ngày 25/8/2023 là 5.103.323.303 đồng (trong đó nợ gốc là 2.929.084.378 đồng, nợ lãi trong hạn là 338.752.654 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.835.486.271 đồng) và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 26/8/2023 theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, các Phụ lục hợp đồng và tại các Giấy nhận nợ.
Hội đồng xét xử xét:
[2.1.1] Căn cứ Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-083/16/VAB/HĐTDHDTN ngày 21/9/2016; Phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 335-083/16/VAB/HĐTDTDHDN-PL01 ngày 07/10/2016; Giấy nhận nợ ngày 21/9/2016 và Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-093/16/VAB/HĐTDHDN ngày 31/10/2016; Giấy nhận nợ ngày 04/11/2016, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Công ty K1 có vay của Ngân hàng V số tiền 5.650.000.000 đồng. Thời hạn vay là 48 tháng theo từng Giấy nhận nợ. Mục đích vay: Mua xe vận tải để kinh doanh.
Lãi suất trong hạn là 7%/năm và tiếp tục thay đổi trong các trường hợp theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng và tại các Giấy nhận nợ là phù hợp quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Thực hiện hợp đồng, Công ty K1 đã nhận đủ số tiền là 5.650.000.000 đồng và đã trả được cho Ngân hàng V số tiền tổng cộng của 02 hợp đồng là 3.458.807.862 đồng, trong đó nợ gốc là 2.720.915.622 đồng và nợ lãi là: 737.892.240 đồng.
Kể từ ngày 20/9/2018 đến nay, Công ty K1 không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng V. Việc Công ty K1 không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng V là đã vi phạm các quy định trong thỏa thuận cho vay được các bên ký kết tại các hợp đồng tín dụng cụ thể là tại điểm d khoản 2 Điều 13.
Khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật....”
Trong trường hợp này, Công ty K1 là bên đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ và thời hạn trả nợ trong các Hợp đồng tín dụng. Do đó, Ngân hàng V có quyền xử lý nợ theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên là có căn cứ. Vì vậy, Ngân hàng V yêu cầu Tòa án buộc Công ty K1 phải trả số tiền tính đến ngày 25/8/2023 là 5.103.323.303 đồng (trong đó nợ gốc là 2.929.084.378 đồng, nợ lãi trong hạn là 338.752.654 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.835.486.271 đồng) và Công ty K1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26/8/2023 theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, Phụ lục hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ mà hai bên ký kết là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.1.2] Về phương thức trả nợ: Ngân hàng V yêu cầu Công ty K1 trả toàn bộ số tiền còn nợ làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét:
Các Hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng và Giấy nhận nợ mà hai bên ký kết là hợp đồng dân sự. Việc ký kết các Hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng và Giấy nhận nợ là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Công ty K1 không trả nợ đúng hạn là vi phạm thỏa thuận của hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng V. Do đó, Ngân hàng V yêu cầu Công ty K1 phải trả toàn bộ số tiền còn nợ làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu trong trường hợp Công ty K1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ gốc và tiền lãi thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo các Hợp đồng thế chấp đã được 02 bên ký kết.
Hội đồng xét xử xét!
Để đảm bảo cho cho các khoản vay, Công ty K1 đã thế chấp các tài sản cho Ngân hàng V theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/HĐTC ngày 21/9/2016; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/TCOTO-PL01 ngày 07/10/2016 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC ngày 31/10/2016; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC/SĐBS-01 ngày 18/11/2016, cụ thể các tài sản thế chấp là:
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 6540 biển số 51D-042.37 Số máy: 0300F2783723, Số khung: 400KF1325376; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 203458 cấp ngày 17/9/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 6540 biển số 51D-042.93 Số máy: 0300F2783729, Số khung: 400KF1325392; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 203457 cấp ngày 17/9/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 6540 biển số 51D-060.23 Số máy: 0300F2784014, Số khung: 400KF1325400; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219498 cấp ngày 29/10/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 65115 biển số 51D-061.18 Số máy: 0620G2798261, Số khung: 1153G1332944; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219500 cấp ngày 29/10/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 65115 biển số 51D-061.83 Số máy: 0620G2798204, Số khung: 1153G1332920; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219501 cấp ngày 29/10/2016;
- Xe ô tô tải tự đổ nhãn hiệu KAMAZ, số loại 65115 biển số 51D-0601.35 Số máy: 0620G2801265, Số khung: 1153G2470256; Giấy chứng nhận đăng ký xe số 219499 cấp ngày 29/10/2016;
Tài sản thế chấp nêu trên thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của Công ty K1, việc ký kết các hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, các bên đã thực hiện đúng quy định về thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 nên có giá trị ràng buộc đối với các bên đã ký kết trong hợp đồng thế chấp.
Vì vậy, Ngân hàng V yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ nếu Công ty K1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 295, 299, 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng 2010.
Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tính đến ngày 25/8/2023 là 5.103.323.303 đồng trong đó nợ gốc là 2.929.084.378 đồng, nợ lãi trong hạn là 338.752.654 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.835.486.271 đồng đồng theo Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-083/16/VAB/HĐTDHDTN ngày 21/9/2016; Phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 335-083/16/VAB/HĐTDTDHDN-PL01 ngày 07/10/2016; Giấy nhận nợ ngày 21/9/2016 và Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-093/16/VAB/HĐTDHDN ngày 31/10/2016; Giấy nhận nợ ngày 04/11/2016. Phương thức trả: Trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26/8/2023 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-083/16/VAB/HĐTDHDTN ngày 21/9/2016; Phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 335-083/16/VAB/HĐTDTDHDN-PL01 ngày 07/10/2016; Giấy nhận nợ ngày 21/9/2016 và Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 335-093/16/VAB/HĐTDHDN ngày 31/10/2016; Giấy nhận nợ ngày 04/11/2016.
Trong trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/HĐTC ngày 21/9/2016; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-084/16/VAB/TCOTO-PL01 ngày 07/10/2016 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC ngày 31/10/2016; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải hình thành trong tương lai số 335-094/16/VAB/HĐTC/SĐBS-01 ngày 18/11/2016 để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền phát mại các tài sản thế chấp không đủ trả hết số tiền còn nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V thì Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ còn thiếu cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V đến khi thực trả hết nợ. Trường hợp sau khi phát mại các tài sản thế chấp mà giá trị tài sản phát mại lớn hơn số nợ Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V thì Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 được quyền hưởng giá trị chênh lệch lớn hơn này.
Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 trả đủ toàn bộ số nợ mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản thế chấp thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V phải tiến hành giải chấp và trả lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 toàn bộ hồ sơ bản chính của các tài sản thế chấp mà Ngân hàng đang giữ.
Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2/Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 113.103.323 đồng, Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 phải chịu.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.355.624 đồng theo Biên lai thu số AA/2022/0014529 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Thị Duyên |
Bản án số 25/2023/KDTM-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NĐ
