Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Bùi Quốc Kiên
  2. Ông: Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ngọc Á - Sinh năm: 1995

HKTT: TDP K, phường M, thị xã N, Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: 90/8, Khu phố C, phường Q, TP ., Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Lê Văn T - Sinh năm: 1995

Địa chỉ: TDP K, phường M, TX. N, tỉnh Thanh Hóa.

Tất cả các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải chị Trương Thị Ngọc Á trình bày như sau: Chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thị xã N, Thanh Hóa vào ngày 23/11/2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng về quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 1/2024 vợ chồng chị sống ly thân cho đến nay. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Quan điểm trình bày của anh Lê Văn T như sau: Về thời gian, điều kiện, địa điểm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị Á trình bày là đúng. Nay chị Á làm đơn ly hôn, anh xác định tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: chị Á và anh T thừa nhận có 02 con chung là: Lê Thành Q – Sinh ngày: 30/12/2019 và Lê Ngọc H – Sinh ngày: 22/7/2021. Nay ly hôn, chị Á có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngọc H, giao cháu Thành Q cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 cháu Ngọc HThành Q. Các đương sự đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Trong đơn xin xét xử vắng mặt, anh T thay đổi nguyện vọng. Anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Thành Q và giao cháu Ngọc H cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị Á cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị Ngọc Á. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Trương Thị Ngọc Á và anh Lê Văn T; Về con chung: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự giao cháu Ngọc H cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Thành Q cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Các bên được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị Á phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị Ngọc Á khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn T là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ca chị Á và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt các đương sự. Do các đương sự không có mặt tại phiên toà nên không tiến hành phần tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 246 BL TTDS được.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Á và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị Á và anh T có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Anh chị đã sống ly thân hoàn toàn từ tháng 1/2024 cho đến nay. Cả chị Á và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy hiện tại anh chị mỗi người sống một nơi. Vì vậy HĐXX căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Á và anh T.

[3] Về con chung: Chị Á và anh T có 02 con chung là cháu Lê Thành Q – Sinh ngày: 30/12/2019 và Lê Ngọc H – Sinh ngày: 22/7/2021. Nay ly hôn cả chị Á và anh T đều thống nhất giao cháu Ngọc H cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Thành Q cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng. Vì vậy, HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc chị Á phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào Điều 55; khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị Ngọc Á

  1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Trương Thị Ngọc Á và anh Lê Văn T.
  2. Về con chung: Chị Á và anh T có 02 con chung là cháu Lê Thành Q – Sinh ngày: 30/12/2019 và Lê Ngọc H – Sinh ngày: 22/7/2021. Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự giao cháu Ngọc H cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Thành Q cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không yêu cầu.

    Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.

  3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  4. Về án phí: Buộc chị Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007108, ngày 20 tháng 03 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị Á đã thi hành xong phần án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND phường Mai Lâm, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Á và anh T xác định tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger