|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-PT Ngày: 24/7/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Ông Nguyễn Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 24/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLPT- HNGĐ ngày 18/6/2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2024/HNGĐ- ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2024/QĐ- PT ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Ông Trịnh Xuân L1, sinh năm 1959; HKTT: D V, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trịnh Xuân L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà kết hôn với ông Trịnh Xuân L1 vào ngày 09/11/2000 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận B, thành phố Hà Nội. Sau ngày cưới, bà và ông L1 thuê nhà sống tại Hà Nội. Năm 2018, bà và ông L1 chuyển về sống trên nhà đất của bố mẹ đẻ bà tại thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống, bà và ông L1 không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất động quan điểm, không có tiếng nói chung. Ông L1 thường xuyên đánh bạc, về nhà đánh đập, chửi bới bà nhiều lần. Bà có khuyên bảo ông L1 từ bỏ cờ bạc, tu chí làm ăn nhưng ông L1 không thay đổi. Khi bà và ông L1 xảy ra mâu thuẫn, gia đình 02 bên đều biết, có hòa giải nhưng bà và ông L1 vẫn việc ai người ấy làm, không ai quan tâm đến đời sống của ai. Nay bà xác định không thể tiếp tục chung sống với ông L1, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông L1.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, công nợ: Bà và ông L1 không có tài sản chung, không nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Trịnh Xuân L1 trình bày: Ông xác nhận một phần lời khai của bà L về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn là đúng. Ngoài ra, ông L1 trình bày, ông và bà L vẫn chung sống hòa thuận, chỉ phát sinh mâu thuẫn nhỏ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Có vài lần ông đi ăn cỗ, đánh bạc nên có đánh bà L chứ ông không thường xuyên đánh bạc và đánh đập bà L như bà L trình bày. Khi vợ chồng ông bà xảy ra mâu thuẫn, gia đình 02 bên đều biết, có hòa giải nhưng bà L vẫn quyết định ly hôn. Ông xác định vợ chồng ông bà đã ly thân từ 26/11/2022 đến nay, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, việc ai người ấy làm, không ai quan tâm đến đời sống của ai. Tuy nhiên, ông vẫn còn tình cảm với bà L nên ông không đồng ý ly hôn. Ông chỉ đồng ý ly hôn khi tài sản chung vợ chồng được phân chia rõ ràng.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông có tạo dựng được tài sản chung gồm phần đất có diện tích 100m² thuộc thửa đất số 1122, tờ bản đồ số 13, diện tích 380m² tại thôn C, xã P và tài sản xây dựng trên đất có 01 ngôi nhà 03 tầng, diện tích 70m²/sàn; 01 nhà ngang diện tích 30m²; công trình phụ diện tích 18m²; sân lát gạch đỏ trên bắn tôn xốp diện tích 185m²; 01 nhà ăn diện tích 35m². Ông đề nghị Tòa án chia đôi số tài sản chung trên của vợ chồng ông.
Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm đã căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, 147, điểm đ khoản 1 Điều 217, Điều 235, 264, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Trịnh Xuân L1.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của ông Trịnh Xuân L1.
Về công nợ: Không có.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/5/2024, bị đơn là ông Trịnh Xuân L1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Ông L1 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Xuân L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Miễn án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm cho ông Trịnh Xuân L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trịnh Xuân L1 nộp trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
- Xét nội dung kháng cáo của ông Trịnh Xuân L1, Hội đồng xét xử thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Trịnh Xuân L1 kết hôn ngày 09/11/2000, tại thời điểm kết hôn bà L và ông L1 đều đủ điều kiện kết hôn theo luật định và được UBND phường K, quận B, thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, mối quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông L1 là hợp pháp.
Quá trình chung sống, phía bà L cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Ông L1 thường xuyên đánh bạc, đánh đập, chửi bới bà nhiều lần nên 02 vợ chồng đã ly thân từ ngày 26/11/2022 đến nay. Bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị được ly hôn ông Trịnh Xuân L1. Phía ông L1 thừa nhận ông bà ly thân từ ngày 26/11/2022 nhưng ông bà chỉ phát sinh mâu thuẫn nhỏ, bà L còn có quan hệ ngoại tình. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông xác định vẫn còn tình cảm với bà L nên ông chỉ đồng ý ly hôn khi Tòa án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng bà L, ông L1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L, xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Trịnh Xuân L1 là có căn cứ.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Trịnh Xuân L1 không có con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên bản án sơ thẩm không đặt ra xem xét là có căn cứ.
Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/01/2024 bị đơn là ông Trịnh Xuân L1 có đơn yêu cầu Tòa án xem xét chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm: Phần đất có diện tích 100m² thuộc thửa đất số 1122, tờ bản đồ số 13, diện tích 380m² tại thôn C, xã P; 01 ngôi nhà 03 tầng, diện tích 70m²/sàn xây dựng trên thửa đất trên; 01 nhà ngang diện tích 30m²; công trình phụ diện tích 18m²; sân lát gạch đỏ trên bắn tôn xốp diện tích 185m² và 01 nhà ăn diện tích 35m². Tòa án cấp sơ thẩm đã ra thông báo thụ lý để xem xét, giải quyết yêu cầu của bị đơn. Ngày 10/01/2024, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Thông báo giao nộp tài liệu, chứng cứ; ngày 12/02/2024, Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục ra Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản theo đơn yêu cầu xem xét, thẩm định và định giá tài sản của ông L1. Ông L1 đã được nhận các thông báo trên. Tuy nhiên, hết thời hạn 07 ngày theo quy định, ông L1 không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh các tài sản trên là tài sản chung của ông và nguyên đơn trong thời kỳ hôn nhân; cũng như không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản nên không có căn cứ để Tòa
án xem xét.Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy, việc bản án sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của ông Trịnh Xuân L1 là có căn cứ.
Ông L1 kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu của mình nên không được chấp nhận.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Do ông Trịnh Xuân L1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, điểm đ khoản 1 Điều 217, Điều 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L.
- Bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Trịnh Xuân L1.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông Trịnh Xuân L1.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận bà L đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001226 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du.
Miễn án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm cho ông Trịnh Xuân L1.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tính |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
