|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 5 - 2024 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Minh Châu;
- Ông Trần Duy Hồ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/20244/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Phát T, sinh ngày 01/01/1948 (Vắng mặt có đơn);
Địa chỉ cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953 (Vắng mặt không lý do);
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Lê Phát T trình bày:
Về hôn nhân: Năm 1977, ông và bà Nguyễn Thị L có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống với nhau, vợ chồng chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng sau đó vợ chồng cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi và không thể hàn gắn được. Từ năm 1985 cho đến nay, bà Nguyễn Thị L và anh Lê Phát S (con của ông Lê Phát T) tự ý bỏ nhà đi nơi khác, không có tin tức, không có liên lạc với gia đình lần nào và hiện nay, không biết còn sống hay đã chết, nên ông Lê Phát T đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự tuyên bố bà Nguyễn Thị L và anh Lê Phát S mất tích và đã được giải quyết bằng Quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2024/QĐST-VDS ngày 11 tháng 3 năm 2024, về việc tuyên bố một người mất tích.
Nay, ông Lê Phát T nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được, nên ông Lê Phát T xin ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
Về con chung: Có 02 (hai) người con chung tên Lê Phát S, sinh năm 1981 và Lê Thị Kim T1, sinh năm 1982, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị L đầy đủ, đúng quy định của pháp luật.
Ông Lê Phát T khẳng định không yêu cầu, cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn là ông Lê Phát T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị L nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị L với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú cuối cùng tại ấp T, xã T, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Phát T có đơn xin vắng mặt; bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[4] Về hôn nhân: Năm 1977, ông Lê Phát T và bà Nguyễn Thị L có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng không có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân thực tế nên vẫn xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Năm 1985, bà Nguyễn Thị L và con tên Lê Phát S tự ý bỏ nhà đi, không rõ đi đâu, không trở về nhà nữa, mọi thông tin liên lạc với bà Nguyễn Thị L đều không được; từ năm 1985 cho đến nay, ông Lê Phát T và bà Nguyễn Thị L đã ly thân; năm 2023, ông Lê Phát T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị L và anh Lê Phát S; sau đó, ông Lê Phát T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự tuyên bố bà Nguyễn Thị L và anh Lê Phát S mất tích và đã được giải quyết bằng Quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2024/QĐST-VDS ngày 11 tháng 3 năm 2024, về việc tuyên bố một người mất tích; đồng thời, ông Lê Phát T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị L được quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận cho ly hôn.
[5] Về con chung: Có 02 (hai) người con chung tên Lê Phát S, sinh năm 1981 và Lê Thị Kim T1, sinh năm 1982, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn là ông Lê Phát T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nhưng ông Lê Phát T là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí; bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51 và khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Lê Phát T với bà Nguyễn Thị L.
Về con chung: Không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Phát T được miễn nộp tiền án phí;
Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí.
Ông Lê Phát T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2024). Đối với bà Nguyễn Thị L có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Lê Phát T với bà Nguyễn Thị L
