|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 5 - 2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Sửu.
- Ông Nguyễn Lâm Giang.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Hương, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Cảnh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Đỗ Quang D, sinh năm 1939; địa chỉ: Số nhà A, thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
- - Bị đơn: Bà Tạ Thị L, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án ông Đỗ Quang D trình bày: Ông kết hôn với bà Tạ Thị L ngày 11/7/2005, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình ông, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh từ đầu tháng 06/2006, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống và trong làm ăn kinh tế, vợ chồng sống ly thân và không có quan hệ tình cảm từ tháng 08/2008. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, ông giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho ông và bà L được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Thị T, sinh ngày 30/5/2006, hiện tại cháu T do bà L nuôi dưỡng từ ngày vợ chồng sống ly thân tháng 08/2008, vợ chồng ly hôn ông và bà L thỏa thuận bà L nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông phải cấp dưỡng nuôi con. Sau đó bà L có đề nghị ông cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng trên tháng kể từ tháng 8/2008 đến ngày xét xử, tuy nhiên ông không khả năng lao động và không có nghề phụ nào để có tiền cấp dưỡng nuôi con như bà L yêu cầu, ông hiện đang sống bằng trợ cấp xã hội là 720.000 đồng/tháng nên ông xác định không có khả năng cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Ông xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ của vợ chồng.
Tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai ngày 01/3/2024 bị đơn bà Tạ Thị L trình bày: Bà kết hôn với ông Đỗ Quang D ngày 11/7/2005, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình ông D, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Theo bà vợ chồng có mâu thuẫn căng thẳng và trầm trọng, không thể hàn gắn được, vợ chồng sống ly thân và không có quan hệ tình cảm từ tháng 08/2008, mục đích hôn nhân không đạt được tuy nhiên ông D đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, bà không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Thị T, sinh ngày 30/5/2006, hiện tại cháu T đang do bà nuôi dưỡng từ ngày vợ chồng sống ly thân tháng 08/2008, bà đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Trường hợp phải ly hôn nhau thì bà yêu cầu ông D phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2008 đến nay.
Về tài sản, công nợ chung: Bà xác định vợ chồng có tài sản chung là công sức bà tôn tạo thửa đất tại địa chỉ 157, thôn G, xã T, thành phố B và năm 2007 bà và ông D mua được 60m² đất liền kề với thửa đất, bà không đồng ý ly hôn vì có tài sản chung chưa chia, vợ chồng không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về công nợ.
Tại bản tự khai ngày 01/3/2023 cháu Đỗ Thị T trình bày: Trong trường hợp bố mẹ cháu không ở cùng nhau cháu xin được ở với mẹ vì cháu ở cùng mẹ từ bé và mẹ cháu chăm sóc cháu sẽ tốt hơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Tạ Thị L như: Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bà L. Tại các buổi công khai tiếp cận chứng cứ cũng như quá trình giải quyết vụ án bà L không đến Tòa án làm việc mà chỉ cung cấp lời khai thể hiện quan điểm là không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị được nuôi con chung yêu cầu ông D đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, kê khai công sức và tài sản chung nhưng không có đơn đề nghị giải quyết.
Tại phiên toà ông Đỗ Quang D vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho ông và bà Tạ Thị L được ly hôn. Ông đề nghị giữ nguyên việc nuôi con như hiện tại, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung ông xác định không có tiền để đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con như bà L đề nghị. Về tài sản và công nợ chung không có và không đề nghị Tòa án giải quyết. Bà Tạ Thị L vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn ông Đỗ Quang D thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định; bị đơn bà Tạ Thị L không chấp hành theo đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đỗ Quang D và bà Tạ Thị L được ly hôn.
Về con chung: Giao bà Tạ Thị L nuôi dưỡng Đỗ Thị T, sinh ngày 30/5/2006. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Đỗ Quang D được miễn án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành giao giấy triệu tập phiên tòa và quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn bà Tạ Thị L, nhưng bà L vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn ông Đỗ Quang D, bị đơn bà Tạ Thị L và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:
Ông Đỗ Quang D kết hôn bà Tạ Thị L ngày 11/7/2005 trên cơ sở hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận, vợ chồng tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình ông D, tình cảm ban đầu hòa thuận, hạnh phúc hiện vợ chồng đã có một con chung với nhau, do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nay ông D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết về nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản, công nợ chung; Tòa án thụ lý vụ án về Ly hôn và tranh chấp nuôi con là đúng quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh đầu tháng 06/2006, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Ông D và bà L sống ly thân và không có quan hệ tình cảm từ tháng 08/2008 bà L đã không về nhà ông D sinh sống hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay ông D xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể hàn gắn được, không còn khả năng đoàn tụ, do vậy ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông và bà L được ly hôn. Bà L xác nhận về thời gian và điều kiện kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng như ông D trình bày là đúng, tuy nhiên bà không đồng ý ly hôn vì bà cho rằng vợ chồng còn có tài sản chung chưa giải quyết.
Xét thấy tình trạng hôn nhân của ông Đỗ Quang D và bà Tạ Thị L đã xảy ra căng thẳng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân một thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông D xin ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, xử cho ông Đỗ Quang D và bà Tạ Thị L được ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Ông Đỗ Quang D và bà Tạ Thị L có 01 con chung là Đỗ Thị T, sinh ngày 30/5/2006, hiện bà L đang nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông D phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2008 cho đến nay. Ông D thừa nhận bà L nuôi dưỡng con chung từ tháng 8/2008 đến nay ông không cấp dưỡng cho bà L tiền để nuôi con, nay bà L yêu cầu ông đóng góp tiền cấp dưỡng thì ông không có tiền để đóng góp.
Xét thấy con chung Đỗ Thị T của ông Đỗ Quang D và bà Tạ Thị Lâm t đến thời điểm xét xử là 17 tuổi 11 tháng 24 ngày, tính đến ngày 30/5/2024 cháu T đủ 18 tuổi, người không nuôi dưỡng không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung khi con chung đủ 18 tuổi, mặt khác ông L là người cao tuổi năm nay đã 85 tuổi hiện đang sống bằng trợ cấp xã hội là 720.000 đồng/tháng, nên không có khả năng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, do vậy không buộc ông D đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho bà L 06 ngày còn lại. Giao cho bà Tạ Thị L có nghĩa vụ quản lý, giáo dục con chung theo ý kiến đề nghị của cháu T là đúng theo quy định.
Đối với yêu cầu của bà Tạ Thị L đề nghị Toà án buộc ông Đỗ Quang D phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2008 cho đến nay thì thấy: Tại phiên toà ông D thừa nhận bà L nuôi dưỡng con chung một mình từ thời điểm vợ chồng sống ly thân tháng 8/2008, ông cũng không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho bà L lần nào. Lý do ông không đóng góp được tiền cấp dưỡng nuôi con là ông không có thu nhập mà chỉ sống dựa vào trợ cấp của chính quyền địa phương. Theo độ tuổi của ông D xác định thời điểm tháng 8/2008 khi vợ chồng sống ly thân thì ông D đã 71 tuổi là người già, hiện nay ông D đã 85 tuổi, theo xác minh tại địa phương UBND xã T nơi ông D sinh sống thì ông D không có nghề phụ, không có thu nhập nào khác ngoài tiền hưởng trợ cấp xã hội 720.000 đồng/tháng nên không có khả năng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của bà L. Không chấp nhận yêu cầu của bà L buộc ông D phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2008 cho đến khi cháu Đỗ Thị T đủ 18 tuổi.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Ông Đỗ Quang D xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Tạ Thị L xác định bà có công sức đóng góp, tôn tạo vào khối tài sản chung và trong thời gian sống chung bà và ông D mua thêm 60m² đất nằm trong diện tích đất của ông D đang quản lý, do vậy bà đề nghị Toà án xem xét giải quyết về công sức và tài sản chung của vợ chồng.
Xét thấy sau khi có ý kiến trình bày của bà Tạ Thị L về việc bà có công sức đóng góp, tôn tạo vào tài sản do ông D quản lý, bà và ông D mua thêm 60m² đất ở nằm trong thửa đất hiện ông D đang quản lý, Toà án đã giải thích bà phải có đơn phản tố hay đơn yêu cầu giải quyết về tài sản chung vợ chồng và cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh tài sản chung. Toà án cũng đã tiến hành đối chất về tài sản đối với ông D và bà L, ra quyết định yêu cầu bà L cung cấp tài liệu chứng cứ cho yêu cầu của bà, tuy nhiên hết thời hạn cung cấp tài liệu chứng cứ bà L không có đơn đề nghị giải quyết về công sức đóng góp và tài sản, không nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung giữa bà L và ông D, nếu sau này bà L có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác.
[5] Về án phí: Ông Đỗ Quang D được miễn án phí theo quy định pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 118, của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đỗ Quang D và bà Tạ Thị L được ly hôn.
[2] Về con chung: Giao bà Tạ Thị L trực tiếp quản lý, chăm sóc Đỗ Thị T, sinh ngày 30/5/2006.
Ông D có quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom con của ông D.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị Lâm b ông Đỗ Quang D phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2008 cho đến khi cháu Đỗ Thị T đủ 18 tuổi.
[3] Về tài sản; công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Ông Đỗ Quang D được miễn án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Biên |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đỗ Quang D xin ly hôn với bà Tạ Thị L
