|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 5 - 2024
V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Mùi
Ông Nguyễn Ngọc Quang
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2023/TLST – HNGĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/TB-TA, ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị N trình bày:
Chị và anh Phạm Văn Q kết hôn với nhau vào ngày 26/9/2012, có đăng ký tại UBND xã Đ nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn, vợ chồng anh chị sinh sống cùng nhau tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh Q không quan tâm đến gia đình, vợ con. Đến năm 2019, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể chung sống cùng nhau được nữa nên chị và anh Q đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là Phạm Thị H, sinh ngày 24/01/2013 và Phạm Quang H1, sinh ngày 15/10/2014. Hiện nay, các cháu đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Chị không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị N không đề nghị tòa án giải quyết
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Phạm Văn Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Vũ Thị N. Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã H nơi anh Q cư trú, làm việc với ông Phạm Văn T là bố đẻ của anh Q. Kết quả xác minh và làm việc phù hợp với lời khai của chị Vũ Thị N về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng và con chung. Ông T còn cho biết các văn bản tố tụng của Tòa án, gia đình đã nhận thay và sau đó có liên lạc, thông báo ngay cho anh Q được biết nội dung. Anh Q có thông tin lại cho gia đình biết vì bận công việc nên anh không đến Tòa án làm việc được, anh đồng ý giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của chị N.
3. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị N đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Q không thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Phạm Văn Q.
+ Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc hai con chung là cháu Phạm Thị H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quang H1, sinh ngày 15/10/2014, kể từ khi ly hôn cho đến khi từng con chung thành niên. Anh Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
+ Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
+ Về án dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị N vì chị N thuộc hộ nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Vũ Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn là anh Phạm Văn Q, trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định vụ án có quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Vũ Thị N vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt còn bị đơn là anh Phạm Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Do vậy, Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị N và anh Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án
[2.1] . Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N và anh Phạm Văn Q đã được UBND xã Đ nay là xã H, huyện Đ đăng ký kết hôn ngày 26/9/2012 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên chị N và anh Q đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Lời khai của chị N phù hợp với kết quả xác minh, làm việc tại gia đình, tại địa phương nơi anh Q cư trú. Bị đơn là anh Phạm Văn Q đã được tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa án cũng như tại phiên tòa để trình bày ý kiến của mình. Xét thấy, Cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh Q không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị N khởi kiện được ly hôn anh Q là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Phạm Văn Q có 02 con chung là cháu Phạm Thị H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quang H1, sinh ngày 15/10/2014. Sau khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, các con chung đều thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ là chị N. Kết quả xác minh thu thập chứng cứ cho thấy: Từ khi sống ly thân cho đến nay, cháu H và cháu H1 được chị N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Chị N có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, anh Q thường xuyên đi làm xa nhà. Do vậy, để đảm bảo cho cuộc sống của các con chung được ổn định và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao 02 con chung là Phạm Thị H, sinh ngày 24/01/2013 và Phạm Quang H1, sinh ngày 15/10/2014 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị tòa án giải quyết.
[3] Về án dân sự sơ thẩm: Miễn án toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị N vì thuộc diện hộ nghèo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử: cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Phạm Văn Q.
- Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Phạm Thị H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quang H1, sinh ngày 15/10/2014, kể từ khi ly hôn đến khi từng cháu thành niên. Anh Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết trong vụ án này.
- Về án dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Vũ Thị N vì thuộc diện hộ nghèo.
Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Duyên |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
