|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày: 24-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Bạch Yến;
Ông Nguyễn Văn Minh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Tràng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Đăng S, sinh năm: 1997, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số H, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đăng T và con bà Nguyễn Kim P; Có vợ và 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/9/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 311B/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/01/2017; Tạm giữ: Từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023; Tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và hiện đang tại ngoại tại: Số H, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đăng S là người sử dụng chất ma túy, khoảng 16 giờ ngày 13/12/2023, S mượn xe mô tô biển số 66C1-425.38 của em Ngô Bảo K rồi điều khiển đến khu vực cầu M thuộc thành phố V, tỉnh Vĩnh Long để gặp một thanh niên tên Đ (không rõ họ, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua ma tuý xong S cất giấu bịch ma túy vào trong túi quần rồi điều khiển xe về xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để trả xe cho em K. Sau khi trả xe xong thì S tiếp tục hỏi mượn của em K 01 điện thoại di động hiệu Narzo để sử dụng. Sau đó S thuê xe một tô chạy G chở S về nhà nghỉ T3 (do S đang thuê phòng số 2 của nhà nghỉ) tại số I, khóm T, phường A, thành phố S
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi S đang đứng trước nhà nghỉ T3 thì bị tổ công tác tuần tra phòng chống tội phạm Công an thành phố S đang tuần tra theo kế hoạch phát hiện và kiểm tra lập biên bản bắt người phạm pháp quả tang, thu giữ của S gồm: 01 bịch nylon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy do S đang cất giấu trong túi quần sọt Jean màu xanh phía trước bên phải S đang mặc và 01 điện thoại di động hiệu Narzo.
Tại Kết luận giám định số 1381/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:
Tinh thể rắn chứa trong 1 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong túi niêm phong gửi giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,349 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Quá trình điều tra xác định:
- 01 điện thoại di động hiệu Narzo thuộc sở hữu của em Ngô Bảo K không liên quan đến hành vi phạm tội của S, nên Cơ quan điều tra đã hoàn trả lại cho em K nhận xong.
- Khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSTPSÐ, ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đã truy tố Phạm Đăng S ra trước Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đăng S mức án từ 01 năm đến 01 năn 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định ngoài điện thoại nêu trên thì bị cáo không có tài sản nào khác; không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 1411, ngày 14/12/2023” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Duy T2 và Phạm Đăng S.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đăng S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 13/12/2023, bị cáo cất giấu ma tuý trong người nhằm đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật; Bị cáo tàng trữ ma tuý với khối lượng 0,349 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Đăng S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”
Do đó, Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Phạm Đăng S là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự ở địa phương, gây khó khăn cho Nhân dân và chính quyền địa phương trong việc đấu tranh phòng chống các tội phạm ma túy. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Đăng S. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Phạm Đăng S ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian được giáo dục, học tập và rèn luyện, từ bỏ ma túy, trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có;
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Đăng S thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Đối với người thanh niên tên Đ, thực tế không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, có hành vi bán ma túy cho S sử dụng, xét thấy chưa đủ cơ sở để điều tra làm rõ xử lý theo quy định.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 1411, ngày 14/12/2023” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Duy T2 và Phạm Đăng S.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đăng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Đăng S 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 1411, ngày 14/12/2023” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh V, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Duy T2 và Phạm Đăng S.
(Hiện vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Đăng S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thanh Mai |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
