Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 39/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024;

Đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đình Đ, sinh ngày 12/8/1998 tại: Thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc V (đã chết); con bà Hắc Thị T; chưa có vợ, con; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Trịnh Công Đ1, sinh ngày 04/11/2000 tại: Thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Công M; con bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ, con; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út.

Tiền án, tiền sự: Ngày 28/02 năm 2023 bị Công an huyện T xử phạt hành chính số tiền 5.000.000 đ về hành vi cố ý gây thương tích, Đ1 chưa chấp hành nộp phạt; Hiện đang bị tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay; có mặt.

3. Nguyễn Đình T2, sinh ngày 17/01/1994, tại: Thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc V; con bà Hắc Thị T; có vợ là Nguyễn hà M1, sinh năm 1995, có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

4. Trịnh Công M2, sinh ngày 01/6/1998 tại: Thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Công D; con bà Đỗ Thị H; có vợ là Trần Thị H1, sinh năm 2002, có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

5. Đỗ Anh Đ2, sinh ngày 02/8/2000 tại: Thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Thành K; con bà Đỗ Thị H2; chưa có vợ, con; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu.

Tiền án, tiền sự: Ngày 28/02/2023 bị Công an huyện T xử phạt hành chính số tiền 5.000.000 đ về hành vi cố ý gây thương tích, Đ2 chưa chấp hành nộp phạt; Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hắc Thị T, sinh năm 1968. Vắng mặt;
  2. Trịnh Thị H3, sinh năm 1968. Vắng mặt;

Đều có địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Công M3, sinh năm 1962; Vắng mặt;
  2. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1994; Vắng mặt;
  3. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1986; Vắng mặt;
  4. Anh Mai Thành T5, sinh năm 1990; Vắng mặt;
  5. Chị Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 2008; Vắng mặt;
  6. Chị Bùi Thị L, sinh năm 1971; Vắng mặt;
  7. Anh Nguyễn Đức T6, sinh năm 2006; Vắng mặt;
  8. Anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1970; Vắng mặt;
  9. Anh Nguyễn Đức D1, sinh năm 2001; Vắng mặt;
  10. Anh Nguyễn Văn M4, sinh năm 2000; Vắng mặt;

Đều có địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Phạm Quốc K1, sinh năm 1992; Vắng mặt;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Nguyễn Hữu T8, sinh năm 1993; Vắng mặt;

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Nguyễn Văn M5, sinh năm 1995; Vắng mặt;

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/11/2023, Trịnh Công Đ1, Đỗ Anh Đ2 ngồi ăn uống tại nhà ông Nguyễn Văn T7 (sinh năm 1970, trú ở khu phố Đ, thị trấn L, huyện T). Trong lúc ngồi ăn cơm, Đ1 nói chuyện điện thoại với Nguyễn Đình Đ về việc Nguyễn Đình Đ đòi số tiền nợ 2.000.000 đồng từ Đường. Do Đ1 chưa có tiền trả nên Nguyễn Đình Đ bức xúc cầm một gậy kim loại (dạng gậy ba khúc) ở nhà, bỏ vào người đi đến đoạn đường trước nhà ông T7 để gặp nói chuyện, đòi tiền nợ từ Đường.

Tại đây, Nguyễn Đình ĐĐ1 xảy ra to tiếng, cãi nhau. Lúc này, Trịnh Công M2 đang đứng gần đó nghe được sự việc thì tiến lại dùng chân đạp một cái vào bụng Nguyễn Đình Đ, Đức lùi lại lấy gậy ba khúc trong người vung gậy dài ra, đánh 2-3 cái vào tay và vai trái của M2, vào vùng trán của Đ1 rồi bỏ chạy về hướng nhà thờ khu phố Đ, thị trấn L. Đường, Đỗ Anh Đ2 thấy vậy cùng M2 chạy đuổi đánh Nguyễn Đình Đ vào trong nhà anh Nguyễn Văn T4 (sinh năm 1986, ở khu phố Đ, thị trấn L) cách nhà ông T7 khoảng 100m. Tại đây, Đ1, M2, Đỗ Anh Đ2 dùng chân, tay đánh Nguyễn Đình Đ. Được anh T4 và người dân can ngăn thì Đ1, M2, Đỗ Anh Đ2 đi về nhà ông T7, còn Nguyễn Đình Đ đi về nhà kể chuyện bị đánh cho anh trai là Nguyễn Đình T2.

T2 nghe vậy thì đi đến nhà ông T7 để gặp Đ1, M2, Đỗ Anh Đ2. Khi T2 đến trước nhà ông T7 thì mẹ của T2 là bà Hắc Thị T cũng đang đứng ở ngoài đường hỏi chuyện Đường vì sao lại đánh Nguyễn Đình Đ. T2 thấy M2 đang đứng ở đường, trước cửa giáp với nơi mọi người đang ngồi ăn uống nên đi lại tát M2 một cái vào má trái. Ngay sau đó, Đ1 cầm bát (dạng bát ăn cơm) đứng dậy ném một cái hướng về T2 nhưng trúng vào vùng mặt bà T. Thấy Đ1 ném bát thì T2 bỏ chạy.

Lúc này bà Trịnh Thị H3 (sinh năm 1968, trú ở khu phố Đ, thị trấn L) đang cầm chổi quét đường thấy to tiếng nên đi lại can ngăn. T2 thấy thế dùng tay giằng lấy chổi của bà H3 nhưng không được nên có dùng tay đánh một cái vào mặt bà H3. Được mọi người can ngăn nên bà H3 cầm chổi đi về nhà.

Đường thấy T2 đánh bà H3 là bác ruột của Đ1 nên cầm bát chạy ra ngoài đường ném về hướng T2 nhưng không trúng. T2 chạy lại nhà văn hóa thôn cách đó khoảng 5m nhặt một viên gạch (dạng đất nung, màu đỏ có bám vôi vữa màu xám) chạy lại phía Đường giơ gạch lên để ném nhưng được mọi người ôm can ngăn nên không ném. Thấy T2 cúi người nhặt một viên gạch ở lề đường thì Đ1 chạy hướng vào nhà ông T7, bỏ trốn. T2 cầm gạch tìm Đ1 để ném nhưng không thấy đâu, được mọi người can ngăn nên T2 cầm gạch vứt đi rồi về nhà.

Tại hiện trường, Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất video từ 03 camera an ninh ghi lại nội dung liên quan đến vụ việc vào đĩa DVD.

Tại Bản Kết luận giám định số: 978/KL-KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 04 tệp video trong 03 đĩa DVD gửi giám định. Trích xuất 08 ảnh trong các tệp video gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho các bị can Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công Đ1, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2 xem lại hình ảnh trong video, các bị cáo đều xác nhận hình ảnh cá nhân trong video có hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng là của các bị can.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với Nguyễn Đình T2, Trịnh Công Đ1, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2, Trịnh Thị H3 xác định: Không có dấu vết gì trên thân thể.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với Nguyễn Đình Đ xác định: Tại vị trí sát cánh mũi trái có 01 vết xây xước da, dài 3cm; tại vị trí vùng cổ phía trước, dưới yết hầu có vết hằn màu đỏ, vết không rõ hình, kích thước (8 x 1,5) cm; Phía dưới bên trái yết hầu có vết xây xước da, không rõ hình, kích thước (1 x 0,5) cm.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2084/KLTTCT-PYTH ngày 21/12/2023 của Trung tâm P xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đình Đ tại thời điểm giám định là 0%.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với Hắc Thị T xác định: Tại vị trí mắt phải, gò má phải có 01 vết sưng nề bầm tím, kích thước (6 x 4) cm; Tại vị trí mu bàn tay phải có 01 vết sưng nề, kích thước (3 x 2) cm.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2082/KLTTCT-PYTH ngày 19/01/2024 của Trung tâm P xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hắc Thị T tại thời điểm giám định là 01%.

Trịnh Công Đ1, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2 sử dụng chân, tay đánh gây thương tích làm tổn hại 0% sức khỏe đối với Nguyễn Đình Đ; Trịnh Công Đ1 sử dụng bát sứ ném gây thương tích, làm tổn hại sức khỏe 01% đối với bà Hắc Thị T. Tuy nhiên ngày 04/02/2024 bà T đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trịnh Công Đ1 về hành vi Cố ý gây thương tích.

Đối với hành vi Nguyễn Đình Đ sử dụng gậy kim loại (dạng gậy ba khúc) đánh gây thương tích đối với M2, Đ1; Nguyễn Đình T2 sử dụng tay đánh Trịnh Công M2 và bà Trịnh Thị H3: Do bà H3, M2, Đ1 từ chối giám định pháp y thương tích, không có căn cứ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể nên không có căn cứ xử lý đối với Đ, T2.

Đối với hành vi gây thương tích của Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2, Nguyễn Đình T2, Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính theo quy định.

Về phần dân sự:

- Bà Hắc Thị T, bà Trịnh Thị H3, Trịnh Công Đ1, Trịnh Công M2, Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Đình T2, Đỗ Anh Đ2 không có yêu cầu dân sự gì.

Về vật chứng của vụ án:

- Các mảnh vỡ bát sứ màu trắng bị vỡ thu giữ ở hiện trường.

- 01 gậy kim loại màu xám, loại gậy ba khúc có thể rút ra, đẩy vào được, chiều dài gậy khi đẩy vào là 23cm, khi rút ra là 62cm; gậy dạng hình trụ đường kính lớn nhất là 02cm, cán gậy được bọc vỏ cao su màu đen. Gậy do Nguyễn Đình Đ giao nộp. Đây là gậy của Nguyễn Đình Đ sử dụng đánh Đường, M2.

- 01 viên gạch đất nung màu đỏ, kích thước (20 x 9 x 6)cm, bề mặt có bám vữa xi măng, gạch đã qua sử dụng do Nguyễn Đình T2 giao nộp. Đây là gạch T2 nhặt ở lề đường, cầm trên tay khi đi tìm đánh nhau với Đ1.

Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSTX ngày 05/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Nguyễn Đình T2 về tội “gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2 về tội “gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công M2Đỗ Anh Đ2 phạm tội “gây rối trật tự công cộng”;

Về hình phạt đề nghị:

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo Nguyễn Đình ĐNguyễn Đình T2.

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trịnh Công Đ1.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trịnh Công M2.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Đỗ Anh Đ2.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ từ 26 (hai mươi sáu) tháng tù đến 28 (hai mươi tám) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 52 (năm mươi hai) tháng đến 56 (năm mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Trịnh Công Đ1 từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2023

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 26 (hai mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 (bốn mươi tám) tháng đến 52 (năm mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Trịnh Công M2 từ 04 (bốn) tháng tù đến 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Đỗ Anh Đ2 từ 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng liên quan đến vụ án hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 27/11/2023, Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2 đã có hành vi to tiếng chửi bới, thách thức, đánh nhau gây náo loạn tại đường liên thôn thuộc khu phố Đ, thị trấn L, huyện T. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh tại địa phương, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ.

Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Nguyễn Đình T2 trong quá trình thực hiện hành vi đã sử dụng các “hung khí” là gậy kim loại, bát sứ, gạch. Trong khi các bị cáo Đỗ Anh Đ2Trịnh Công M2 dùng tay chân. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Nguyễn Đình T2 đã đủ cấu thành tội “gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Trịnh Công M2Đỗ Anh Đ2 đã đủ cấu thành tội “gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng với tính chất tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh; làm mất trật tự trị an xã hội; gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân địa phương. Chỉ vì có mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt thường ngày, khi xảy ra tranh cãi các bị cáo đã không làm chủ được bản thân, mà manh động sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn, đuổi đánh nhau. Do đó, hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh, tương xứng với hậu quả gây ra, mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo chỉ là bột phát nên không xem là phạm tội có tổ chức. Xét vai trò, tính chất và mức độ của từng bị cáo khi thực hiện hành vi để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo thì thấy rằng: Các bị cáo đều tham gia gây rối với vai trò là người thực hành, trong đó bị cáo Nguyễn Đình Đ là nguyên nhân phát sinh sự việc và trực tiếp sử dụng hung khí đánh M2Đ1 nên phải chịu hình phạt cao nhất, bị cáo Đ1 tham gia sự việc từ đầu đến cuối và có sử dụng hung khí nên xếp vai trò thứ hai, bị cáo T2 tuy không tham gia ngay từ đầu nhưng quá trình xô xát đã dùng hung khí để đánh nhau nên xếp vai tròn thứ ba, bị cáo M2 không dùng hung khí nhưng là người đã dùng chân đạp bị cáo Nguyễn Đình Đ đầu tiên nên xếp vai trò thứ tư, bị cáo Đỗ Anh Đ2 tham gia với vai trò hạn chế nhất và không dùng hung khí nên xếp vai trò cuối cùng trong vụ án.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công M2 đều có nhân thân tốt;

Các bị cáo Trịnh Công Đ1Đỗ Anh Đ2 đều có nhân thân xấu: Trong ngày 28/02/2023 cả hai bị cáo bị Công an huyện T xử phạt hành chính số tiền 5.000.000 đ về hành vi cố ý gây thương tích và đều chưa chấp hành nộp phạt.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng các bị cáo Nguyễn Đình ĐNguyễn Đình T2 đã tự nguyện giao nộp các vũ khí tự chế khi được cơ quan Công an tuyên truyền vận động, điều này cho thấy các bị cáo là công dân sống có trách nhiệm cao và nhiệt tình cống hiến cho cộng đồng, nên xét cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Các bị cáo Trịnh Công M2Đỗ Anh Đ2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Đỗ Anh Đ2 có ông nội và bà nội là người có công với cách mạng nên xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công M2 đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với các bị cáo Trịnh Công Đ1Đỗ Anh Đ2 đều có nhân thân xấu, đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa nộp phạt, nay lại tiếp tục phạm tội, do đó cần cách ly các bị cáo khỏi xã một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về phần dân sự:

Quá trình sự việc diễn ra bà Hắc Thị T, bà Trịnh Thị H3, các bị cáo Trịnh Công Đ1, Trịnh Công M2, Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Đình T2, Đỗ Anh Đ2 không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án gồm:

- Các mảnh vỡ bát sứ màu trắng bị vỡ;

- 01 gậy kim loại màu xám;

- 01 viên gạch đất nung màu đỏ, bề mặt có bám vữa xi măng, gạch đã qua sử dụng.

Đây xác định là các công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án, hiện không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân theo đúng quy định của pháp luật.

[8] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với hành vi Trịnh Công Đ1 sử dụng bát sứ ném gây thương tích, làm tổn hại sức khỏe 01% đối với bà Hắc Thị T. Tuy nhiên ngày 04/02/2024 bà T đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trịnh Công Đ1 về hành vi Cố ý gây thương tích. Nên không khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Đ1 là phù hợp.

Đối với hành vi Nguyễn Đình Đ sử dụng gậy kim loại đánh gây thương tích đối với M2, Đ1; Nguyễn Đình T2 sử dụng tay đánh Trịnh Công M2 và bà Trịnh Thị H3: Do bà H3, M2, Đ1 từ chối giám định pháp y thương tích, không có căn cứ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể nên không có căn cứ xử lý đối với Đ, T2 là phù hợp.

Đối với hành vi gây thương tích của Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2, Nguyễn Đình T2, Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính theo quy định là phù hợp.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo Nguyễn Đình ĐNguyễn Đình T2.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trịnh Công Đ1.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trịnh Công M2.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Đỗ Anh Đ2.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2 phạm tội “gây rối trật tự công cộng”;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Trịnh Công Đ1 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2023.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 25 (hai mươi lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 50 (năm mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Trịnh Công M2 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Đỗ Anh Đ2 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Giao các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công M2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

- Các mảnh vỡ bát sứ màu trắng bị vỡ thu giữ ở hiện trường.

- 01 gậy kim loại màu xám, loại gậy ba khúc có thể rút ra, đẩy vào được, chiều dài gậy khi đẩy vào là 23cm, khi rút ra là 62cm; gậy dạng hình trụ đường kính lớn nhất là 02cm, cán gậy được bọc vỏ cao su màu đen.

- 01 viên gạch đất nung màu đỏ, kích thước (20 x 9 x 6)cm, bề mặt có bám vữa xi măng, gạch đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo biên bản giao nhận vật chứng số 56 ngày 08/4/2024.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trịnh Công Đ1, Nguyễn Đình T2, Trịnh Công M2, Đỗ Anh Đ2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ghsdgh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger