Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HSPT

Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình

Ông Nguyễn Văn Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 06/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh T, sinh ngày 21 tháng 7 năm 1995 tại tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Làng Tuêk, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Hữu Thị P; có vợ là Y S và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 12/7/2022 và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

* Bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị:

1. Chim, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2001 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y và bà S1; có vợ là M và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Đang chấp hành án tại Trại giam G – Bộ C2. Có mặt.

2. Nhữk, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2004 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T1 và bà A Y1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Đang chấp hành án tại Trại giam G – Bộ C2. Có mặt.

3. Thuân, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2002 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N và bà K; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Đang chấp hành án tại Trại giam G – Bộ C2. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo C: Ông Nguyễn Đình C1 – Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 15-6-2022, C, N1 và N2 (sinh ngày 21-8-2007, trú tại thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) và T2 uống bia tại nhà của C. Một lúc sau, C điện thoại cho Nguyễn Thanh T hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý, T đồng ý và bảo C chạy ra nhà T lấy, đồng thời bảo C khi nào đi thì ra đón K1 (sinh năm 2002, trú tại làng M, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai) cùng đi. Sau đó C nói N1 cầm theo bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và N1 đồng ý rồi rủ T2 cùng đi sử dụng ma túy. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, C nói N1 đi đến đón K1 còn C điều khiển xe mô tô biển số 77L1-339.11 chở N2 đi đến nhà T thì T bảo C đi đến tiệm Đ ở làng T, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai chờ. Khi C điều khiển xe mô tô chở N2 tới tiệm điện thoại thì thấy T2 điều khiển xe mô tô biển số 81B1-830.24 chở N1 và K1 đến. Một lúc sau thì T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 93FA-2946 đi đến. Chim đưa cho T 500.000 đồng để mua ma tuý và còn nợ lại 500.000 đồng rồi tất cả đi theo T đến nhà rẫy bỏ hoang ở làng K, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai để cùng sử dụng ma tuý.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì đến nhà bỏ hoang, lúc này T đưa cho C một túi nilon màu trắng bên trong đựng 05 gói nhỏ ma túy đá, C lấy một gói nhỏ đưa lại cho T, 04 gói còn lại C bỏ vào bao thuốc lá hiệu Golden Eagle đưa cho N1 cất đem về xã H, huyện Đ tiếp tục sử dụng. Lúc này tất cả ngồi thành vòng tròn, N1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý từ trong túi áo đặt xuống nền nhà giữa vòng tròn, C nhặt một vỏ chai nước Number one ở dưới nền nhà đưa cho T2 xuống suối lấy nước. Khi T2 mang chai nước về thì để giữa vòng tròn, Tân lắp bộ dụng cụ vào chai nước, đổ ma tuý vào nỏ thủy tinh và bật quẹt ga nấu ma túy bốc hơi rồi tất cả thay nhau hút. Sau khi hút xong, thì tất cả đi về.

Nhữk điều khiển xe mô tô của T2 chở T2 đi về xã H, huyện Đ trước, C chở N2 đi sau. Khi đi đến quán C3 thuộc Thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai thì N1 dừng xe đứng phía trước quán chờ C với N2 một lúc thì C chở N2 đến, C đưa cho T2 50.000 đồng bảo T2 chở N2 đi đổ xăng. C và N1 đi vào trong quán, N1 lấy bao thuốc lá bên trong đựng 04 gói ma túy đưa lại cho C. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi C và N1 đang ngồi trong quán cà phê thì bị Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã H kiểm tra bắt quả tang thu giữ các vật chứng gồm: 04 gói nilon trong suốt, bên trong chứa chất dạng tinh thể, màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3, màu đen, số Imei 1: 351726111701764; số Imei 2: 351726111701772 (không có thẻ sim) của C; 01 ống nhựa màu đỏ dài 27,2cm, 01 nỏ bằng thủy tinh trong suốt dài 15,5cm được uốn cong đầu một đầu có dạng bầu tròn bên trong có dính chất màu nâu, một đầu có gắn 01 đoạn ống hút màu trắng dài 25cm, 01 nắp chai nhựa màu đỏ đường kính 03cm, có đục 02 lỗ tròn có cùng đường kính là 0,5cm, 01 quẹt ga màu tím, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu hồng, bên trong có sim 1 số: 0366992243 và sim 2 số 0377766948 của Nhữk.

Theo Kết luận giám định số 413/KLGD ngày 24/6/2022 của Phòng K2-Công an tỉnh G kết luận:

- Chất màu trắng dạng tinh thể trong gói nilon trong suốt niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,2715 gam.

- Chất bám dính trong nỏ thủy tinh niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, do lượng mẫu vật ít không cân được khối lượng.

H lại đối tượng giám định gồm:

+ 0,2715 gam chất ma túy loại Methamphetamine và 01 đoạn ống thuỷ tinh uốn cong có một đầu phình to tất cả được niêm phong theo quy định.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận: Không biết nguồn gốc số ma túy mà các bị cáo sử dụng là của ai, bị cáo không bán ma tuý cho C và chỉ thừa nhận hành vi có tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà hoang cùng với C, N1, T2, K1 và N2.

Theo lời khai của bị cáo C: Nguồn gốc số ma túy mà các bị cáo sử dụng và số ma tuý bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu giữ khi bắt quả tang là do C mua của T với giá 1000.000 đồng nhưng C mới đưa cho T 500.000 đồng và còn nợ lại 500.000 đồng. Sau đó, T rủ các bị cáo đến ngôi nhà bỏ hoang để sử dụng ma tuý.

Theo lời khai của N1, T2 và K1 đều khẳng định: Khi vào đến nhà H1 thì tất cả đều nhiền thấy T đưa ma tuý cho C và T cũng là người lắp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và đổ ma tuý vào nỏ thuỷ tinh để tất cả sử dụng.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

+ Vật chứng của vụ án gồm:

- 0,2715 gam chất ma túy loại Methamphetamine gồm: 04 gói nilon trong suốt hàn kín hai đầu kích thước lần lượt là (1,6 x 2,3)cm, (3,0 x 1,2)cm, (3,8 x 1,0)cm, (3,7 x 1,2)cm tất cả được bỏ trong 01 gói nilon trong suốt kích thước (5,5 x 10,0)cm và bỏ vào bao thuốc lá hiệu Golden Eagle;

- 01 chai nhựa có in nhãn hiệu “Number 1";

- 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3, màu đen, số Imei 1: 351726111701764; số Imei 2: 351726111701772 (không có thẻ sim);

- 01 ống nhựa màu đỏ dài 27,2cm,

- 01 nỏ bằng thủy tinh trong suốt dài 15,5cm được uốn cong đầu, một đầu có dạng bầu tròn, một đầu có gắn 01 đoạn ống hút màu trắng dài 25cm,

- 01 nắp chai nhựa màu đỏ đường kính 03cm, có đục 02 lỗ tròn có cùng đường kính là 0,5cm,

- 01 quẹt ga màu tím, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu hồng, bên trong có sim 1 số: 0366992243 và sim 2 số

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 93FA-2946 màu sơn đen đã qua sử dụng do Nguyễn Thanh T giao nộp. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của chị Trần Hữu Thị P (mẹ của T), khi T sử dụng xe đi phạm tội bà P không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho bà P theo quy định.

- 01 xe mô tô biển số 177L1-339.11, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà H2 (sinh năm 1987, trú tại thôn H, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai – chị ruột C), C mượn xe mô tô của H2 để đi làm, sau đó sử dụng đi phạm tội bà H2 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu giữ đối với xe mô tô trên là phù hợp.

- 01 xe mô tô biển số 81B1-830.24, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh N (sinh năm 1981, trú tại thôn Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai-cha ruột của T2), việc T2 sử dụng xe trên đi phạm tội anh N không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu giữ đối với xe mô tô trên là phù hợp.

- Đối với chiếc điện thoại của T dùng để liên lạc mua bán ma tuý với C. Quá trình điều tra, T không thừa nhận việc C gọi điện thoại cho T để mua ma tuý, đồng thời chiếc điện thoại trên T khai đã làm mất và không nhớ mất thời gian nào nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.

- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 62/2023/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt, bị cáo T phải chịu hình phat chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 12/7/2022).

Áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo C 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo C 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt, bị cáo C phải chịu hình phat chung cho cả hai tội là 11) (mười một) thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16-6-2022).

Áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo N1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo N1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt, bị cáo N1 phải chịu hình phat chung cho cả hai tội là 08 tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16-6-2022).

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo T2 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 24-02-2023).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

- Kháng cáo của bị cáo:

Ngày 21/12/2023, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo về toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án và đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội và hành vi không cấu thành tội phạm.

- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thanh T thay đổi nội dung kháng cáo. Bị cáo nhận phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thì giữ nguyên kháng cáo cho rằng không phạm tội.

Bị cáo xác nhận có nhận tiền của C nhưng đó là tiền C trả nợ, ngày 15/6/2022 có cùng các bị cáo khác và người liên quan sử dụng ma tuý, bị cáo là người bỏ ma tuý vào dụng cụ để cùng sử dụng nhưng cho rằng ma tuý là do C đưa. Khi Người bào chữa hỏi thì bị cáo có nhận mua bán ma tuý với C và lý giải là nhận tội vì không muốn C bị ép, Hội đồng xét xử hỏi lại thì bị cáo cho rằng nếu Toà căn cứ chứng cứ trong hồ sơ thì bị cáo nhận tội này còn nếu căn cứ lời khai của các bị cáo khác tại phiên toà thì bị cáo không có tội. Bị cáo cũng trả lời tương tự khi Kiểm sát viên hỏi.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và không nhận tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo C lúc công nhận lời khai tại phiên tòa sơ thẩm là đúng, lúc lại công nhận lời khai ban đầu tại cơ quan điều tra là đúng. Bị cáo khai mua ma túy của một người cũng tên “Tân” trên Facebook và cho rằng tại giai đoạn điều tra bị cáo bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng ma túy nên khai báo chưa đúng, khi Người bào chữa hỏi bị cáo có phải mua ma tuý của bị cáo Nguyễn Thanh T này không thì bị cáo xin được hỏi ý kiến của T.

Bị cáo N1 và bị cáo T2 đều xác nhận thấy bị cáo C đưa tiền cho bị cáo T và thấy bị cáo T lấy ma túy ra để bỏ vào dụng cụ để cùng sử dụng.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” các bị cáo đã nhận tội, khai phù hợp với nội dung hồ sơ vụ án. Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thì bị cáo T không nhận tội. Tuy nhiên, xem xét các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ, phúc thẩm thấy rằng: Quá trình điều tra các bị cáo C, N1, T2 đều khai nhận bị cáo C mua ma túy của bị cáo T và đã trả tiền cho bị cáo T. Khi vào đến nhà hoang thì các bị cáo N1, T2 đều nhìn thấy bị cáo T đưa ma tuý cho CT cũng là người đổ ma tuý vào dụng cụ để tất cả sử dụng, khi bị bắt quả tang thì số ma túy còn lại bị thu giữ là 0,2715 gam. Giai đoạn đầu bị cáo T không nhận hành vi phạm tội nào chỉ sau khi đấu tranh làm rõ, chứng minh được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo thì bị cáo mới nhận tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo đều khai quá trình điều tra, truy tố, xét xử không bị ai đánh đập, ép cung. Do đó, việc tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo C, N1, T2 thay đổi lời khai là nhằm che dấu cho hành vi phạm tội của bị cáo T. Mặc dầu các bị cáo không nhận T là người bán ma tuý cho các bị cáo sử dụng nhưng việc các bị cáo xác nhận T có nhận tiền, có lấy ma tuý bỏ vào dụng cụ để cả nhóm sử dụng đều phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra nên có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 15/06/2022, các bị cáo T, C, N1, T2 đã cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho K1, N2 tại nhà rẫy bỏ hoang ở làng K, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai trong đó có N2 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Nguồn gốc ma túy là do bị cáo C mua của bị cáo T.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với các tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ Luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Kháng cáo đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án vì cho rằng không có sự việc phạm tội và hành vi không cấu thành tội phạm của bị cáo T là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật nên cấp phúc thẩm không xét.

[2] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo T.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt, bị cáo T phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 12/7/2022).

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Gia Lai;
  • - CQCSĐT huyện Đak Đoa;
  • - VKSND huyện Đak Đoa;
  • - TAND huyện Đak Đoa(2);
  • - Chi cục THADS huyện Đak Đoa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, THS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Kim Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HSPT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 24/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giũa nguyên bản án hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger