Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/7/2024

V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Nga.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thương và bà Vũ Thị Xuyến.
  • -Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/03/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024 và quyết định hoãn phiên toà số: 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng V, sinh năm: 1993

    Nơi ĐKHKTT: tổ B, khu D, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: tổ D, khu B, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang H, sinh năm: 1993

    Địa chỉ: tổ B, khu D, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024, tại bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Hồng V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị V và anh Nguyễn Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh vào năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại tổ B, khu D, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mất lòng tin trong kinh tế, anh H cờ bạc không quan tâm đến vợ con, gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Cuộc sống rất căng thẳng, nặng nề không tìm được tiếng nói chung. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, chị V cùng 2 con về nhà mẹ đẻ ở, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị V đề nghị Tòa án cho chị V được ly hôn với anh Nguyễn Quang H.

Về con chung: chị V và anh H có 02 con chung là Nguyễn Hoàng A sinh ngày 25/11/2015 và Nguyễn Văn K sinh ngày 15/11/2018. Khi ly hôn chị V muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và vay nợ chung: chị V và anh H không có tài sản chung và vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn: trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho anh Nguyễn Quang H tuy nhiên anh H vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ không hợp tác.

Tại biên bản xác minh ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - Anh Nguyễn Văn H1 là anh trai ruột của anh Nguyễn Quang H cung cấp sự việc: Hai vợ chồng chị V và anh H tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống hai vợ chồng anh H đến năm 2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân, chị V cùng các cháu về nhà mẹ đẻ ở. Tất cả các văn bản tố tụng, giấy triệu tập của Tòa án anh đã nhận thay em trai và đã thông báo cho anh H nhưng không hiểu lý do vì sao anh H không đến Tòa án để làm việc. Nay chị V có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - Ông Hoàng Văn T là khu trưởng khu D, phường T, thành phố U cung cấp sự việc: Chị V và anh H là công dân cư trú tại tổ B, khu D, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, chị V cùng 02 con đã về nhà mẹ đẻ ở, hiện nay chị V đang làm công nhân khu công nghiệp có thu nhập ổn định. Việc chị V có đơn xin ly hôn anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử.
  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bị đơn tại Điều 70, 72 BLTTDS.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị V, cho chị V được ly hôn anh Nguyễn Quang H; Giao con chung Nguyễn Hoàng An sinh ngày 25/11/2015 và Nguyễn Văn K sinh ngày 15/11/2018 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2024 đến khi từng con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản chung: không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” các đương sự có nơi cư trú tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Quang H được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về quan hệ hôn nhân:

      chị Nguyễn Hồng V và anh Nguyễn Quang H kết hôn vào năm 2015 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống giữa vợ chồng chị V, anh H không có hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do hai người tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải tạo cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng nhau gỡ bỏ mâu thuẫn trong cuộc sống nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do cố tình không hợp tác điều đó chứng tỏ anh H cũng không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng.

      Từ đó xác định: Mâu thuẫn giữa chị V và anh H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn khả năng hàn gắn. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V là phù hợp với thực tế và có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

    2. Về con chung:

      Chị V và anh H có 02 con chung tên là Nguyễn Hoàng A sinh ngày 25/11/2015 và Nguyễn Văn K sinh ngày 15/11/2018. Trong quá trình giải quyết, chị V muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, cháu Nguyễn Hoàng A thể hiện quan điểm nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với mẹ vì mẹ cháu có đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục cháu tốt hơn bố cháu và hiện nay cháu đang ở cùng với mẹ quen rồi. Mặt khác anh H vắng mặt nên không có quan điểm về việc nuôi con chung khi ly hôn. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần giao cả hai con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.

    3. Về tài sản chung:

      chị V không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản; anh H vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về vấn đề tài sản.

  3. Về án phí:

    chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  4. Quyền kháng cáo:

    các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 1 Điều 56; Điều 57; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hồng V về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Quang H.

Tuyên xử:

  1. Chị Nguyễn Hồng V được ly hôn anh Nguyễn Quang H.
  2. Về con chung: giao con chung Nguyễn Hoàng An sinh ngày 25/11/2015 và Nguyễn Văn K sinh ngày 15/11/2018 cho chị Nguyễn Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2024 cho đến khi từng con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Nguyễn Quang H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.

  3. Về án phí: chị Nguyễn Hồng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị V đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002606 ngày 14/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND TP Uông Bí;
  • - Chi cục THADS TP Uông Bí;
  • - UBND phường Trưng Vương (Nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thiên Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án V-H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger