|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS - ST Ngày 23 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dư Thanh Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Thanh Trần
Ông Trần Công Đẳng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn M, sinh ngày 27.8.1997; nơi sinh: Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: Khu vực C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ vào ngày 20.02.2024 và chuyển tạm giam để phục vụ điều tra cho đến nay (bị cáo có mặt).
Về nhân thân: Ngày 21/9/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt đối với Trần Văn M 01 năm 06 tháng tù, về tội gây rối trật tự công cộng, đến vào ngày 17/02/2019 chấp hành xong hình phạt tù và ngày 25/4/2017 đã chấp hành xong phần án phí, hiện nay đã được xóa án tích.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn M khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 19/02/2024, bị cáo nảy sinh ý định mua ma tuý đá về sử dụng nên liên hệ với T (không biết tên đầy đủ) để xin số điện thoại của người bán ma tuý thì T gửi cho bị cáo một nick facebook tên T1 (không rõ lai lịch). Bị cáo dùng điện thoại vào mạng xã hội facebook gọi điện cho T1 và nói: “Em là bạn của T, anh có bản đồ (ma tuý đá) không? bán cho em 1 cái hai (hai trăm nghìn đồng)” thì T1 đồng ý và hẹn đến Lung Chùa thuộc ấp F, xã K để giao ma tuý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo đến nhà của cha vợ bị cáo là ông Lâm Văn N ở ấp C, xã K để uống rượu cùng với Nguyễn Hoàng M1 và T2 (không rõ lai lịch). Bị cáo nhờ T2 chuyển khoản số tiền 200.000 đồng cho T1 nhưng không nói chuyển tiền mua ma tuý, chuyển tiền xong thì bị cáo đưa lại cho T2 200.000 đồng. Sau đó, bị cáo nhờ M1 lấy xe chở đi công chuyện thì M1 đồng ý, bị cáo không có nói cho M1 biết là đi lấy ma tuý. Bị cáo điều khiển xe chở M1 chạy theo lộ bê tông về hướng khu vực L thuộc ấp F, xã K, huyện U thì gặp xe của T1 đi ngược chiều đá đèn xi nhan để phát tín hiệu, bị cáo biết là xe của T1 nên chạy đến, Trương đưa cho bị cáo 01 ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong là ma tuý đá, bị cáo nhận ma tuý đá bỏ vào trong túi áo trước ngực phía bên trái rồi quay lại nhà ông N nhậu tiếp. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, M1 từ giã ra về thì bị cáo hỏi giang xe của M1 để về nhà, do M1 say rượu nên bị cáo điều khiển xe chở M1. Khi đi đến đoạn đường từ cầu S đến Cống S thuộc ấp C, xã K thì bị Tổ tuần tra kiểm soát an ninh trật tự Công an huyện U ra tín hiệu dừng phương tiện kiểm tra, khi kiểm tra trong túi áo trước ngực phía bên trái của bị cáo phát hiện có 01 ống nhựa được hàn kín 2 đầu bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma tuý nên lập biên bản bắt quả tang, thu giữ tang vật và mời bị cáo và M1 về trụ sở Công an để làm việc.
Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, không oan sai cho bị cáo, bị cáo ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt sớm được trở về với gia đình.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn M, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Về vật chứng đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 81/KL/KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh C được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K (người chứng kiến) Võ Trường A (người niêm phong) và hình dấu tròn của Phòng K1 đóng giáp lai niêm phong; tịch thu sung công quỹ 01 phong bì niêm phong của công an huyện U và hình dấu tròn của công an huyện U giáp lai niêm phong (bên trong là 1 chiếc điện thoại di động); trả lại cho bị cáo 01 áo sơ mi, tay dài, màu đen.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan sai và thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép buộc hay bị một tác động nào khác. Căn cứ kết quả khai báo tại phiên tòa phù hợp với tang vật thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó có căn cứ xác định: Vào khoảng 21 giờ 15 phút ngày 19/02/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên bị cáo M đã liên hệ bằng mạng xã hội facebook với người tên T1 (không rõ lai lịch) mua 200.000 đồng ma tuý. Sau đó, bị cáo M điều khiển xe hiệu VARIO, màu xanh – đen, biển kiểm soát 69H1 – 465.22 chở Nguyễn Hoàng M1 chạy về hướng khu vực L thuộc ấp F, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau gặp Trương nhận 01 ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma tuý, rồi cất giấu vào trong túi áo trước ngực phía bên trái để đem về nhà sử dụng. Khi đến đoạn đường từ cầu S đến Cống S thuộc ấp C, xã K thì bị Tổ tuần tra kiểm soát an ninh trật tự Công an huyện U phát hiện và bắt quả tang. Tang vật thu giữ là 01 ống nhựa hàn kín hai đầu, màu trắng trong suốt bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng. Tại Bản kết luận giám định số 81/KL-KTHS, ngày 22/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, niêm phong trong phong bì thư hình chữ nhật có viền sọc xanh, đỏ gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1112gam, loại Methamphetamine. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ).
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội bị cáo Trần Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 1 Điều 249 quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố
3
bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về trách nhiệm hình sự
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng; xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về ma tuý; gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm mục đích sử dụng để thoả mãn cho nhu cầu về ma tuý cho bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Do đó, cần có một mức án tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân, bị cáo có nhân thân không tốt ngoài phạm tội lần này, ngày 21/9/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội gây rối trật tự công cộng, hiện nay đã được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa, làm một công dân chấp hành đúng chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, lao động trở thành người công dân tốt, chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
[6] Về vật chứng của vụ án:
- 01 phong bì hoàn mẫu số 81/KL/KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh C được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K (người chứng kiến) Võ Trường A (người niêm phong) và hình dấu tròn của Phòng K1 đóng giáp lai niêm phong là vật cấm lưu hành, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy. 01 phong bì niêm phong của công an huyện U và hình dấu tròn của công an huyện U giáp lai niêm phong (bên trong là 1 chiếc điện thoại di động) là công cụ phương tiện phạm tội, tịch thu S; trả lại cho bị cáo 01 áo sơ mi, tay dài, màu đen, theo điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các tang vật này hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2024 giữa công an huyện U và Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu VARIO, màu xanh – đen, biển kiểm soát 69H1 – 465.22, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định xe này đứng tên Nguyễn Hoàng M1 là chủ sở hữu, đồng thời việc bị cáo M liên hệ, trao đổi, mua ma tuý
4
về để sử dụng thì M1 hoàn toàn không biết, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu là Nguyễn Hoàng M1 quản lý, sử dụng là đúng quy định.
[7] Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị xử phạt tù bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ và thỏa đáng.
[8] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 đồng. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Đối với Nguyễn Hoàng M1: Quá trình điều tra xác định, việc bị cáo Trần Văn M liên hệ, trao đổi mua bán, giao dịch ma tuý với người thanh niên tên T1 thì bị cáo M không có nói cho M1 biết, đồng thời M1 cũng không biết trên người bị cáo M có tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoàng M1. Riêng đối với việc Nguyễn Hoàng M1 khai: Vào ngày 17/02/2024, M1 có sử dụng trái phép ma tuý cùng với bạn tại nhà của Nguyễn Hoài V ở phường I, thành phố C thì Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện U đã chuyển nguồn tin có dấu hiệu tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C xử lý theo thẩm quyền. Đồng thời ngày 28/02/2024 Trưởng Công an xã K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Hoàng M1 số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Đối với người thanh niên tên Trương bán ma túy cho bị cáo M và người tên T2 bị cáo M nhờ chuyển tiền mua ma tuý cho T1, Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch nên đã tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người tên T: Bị cáo M khai T giới thiệu người bán ma tuý cho bị cáo, hiện nay Cơ quan điều tra chưa làm việcc được nên tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên xử: Bị cáo Trần Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
5
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 81/KL/KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh C được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K (người chứng kiến) Võ Trường A (người niêm phong) và hình dấu tròn của Phòng K1 đóng giáp lai niêm phong.
Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại di động bên trong phong bì niêm phong của công an huyện U và hình dấu tròn của công an huyện U giáp lai niêm phong.
Trả lại cho bị cáo Trần Văn M 01 áo sơ mi, tay dài, màu đen.
Các tang vật này hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2024 giữa công an huyện U và Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dư Thanh Nguyễn |
6
Bản án số 25/2024/HS - ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ tàng trữ trái phép chất mâ tuy do Trần Văn Mích thực hiện
