|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST. Ngày 23 - 5 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Ngài và ông Lương Viết Quang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Tuấn V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/01/2003 tại tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình;
Nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đinh Văn T và bà Lương Thị L; Vợ, con: Chưa có.
* Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
* Bị hại:
Ông Ngô Trọng M, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Số nhà B, tổ B, khu D, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Bùi Quang Đ, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số nhà G đường N, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Nguyễn H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Nguyễn Thế K, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Đinh Văn T1, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Đỗ Văn L1, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Tổ G, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Lê Đ1, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Số A đường G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; có đơn xét xử vắng mặt.
Anh Phùng Lý N1, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. có đơn xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Cao Đại H2, sinh năm 2003;
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân, Đinh Tuấn V, sinh năm 2003 đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hình thức đăng tải các bài viết bán thiết bị âm thanh loa, đài (không có thật) lên mạng xã hội để chiếm đoạt tiền đặt cọc của người mua. V sử dụng tài khoản Facebook của mình tên là “Hoàng Hiệp” để tải các hình ảnh, bài biết liên quan đến việc mua bán loa, đài trên mạng xã hội, rồi đăng tải lên tài khoản Facebook của mình và đưa ra thông tin gian dối là bán loa, đài đã qua sử dụng. Đồng thời, V nhờ bạn mình là anh Cao Đại H2 sinh năm 2003 cho mượn tài khoản ngân hàng S1 mở tại T4 để cung cấp cho người có nhu cầu mua loa, đài chuyển tiền đặt cọc theo yêu cầu của V. Sau khi nhận được tiền đặt cọc, V chặn mọi liên lạc với người mua và bảo anh H2 chuyển số tiền nhận được đến tài khoản số 0344545499999 của V mở tại M2 để chiếm đoạt; trong một số lần nhờ anh H2 nhận và chuyển tiền, V tự nguyện cho anh H2 từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng (anh H2 không biết đây là tiền gì, không biết việc V có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác). Cụ thể:
- Lần 1: Ngày 27/9/2023, ông Ngô Trọng M (trú tại Tổ B, Khu D, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) dùng tài khoản Facebook của mình tên “Muon N2” nhắn tin Massenger với tài khoản Facebook tên “Hoàng Hiệp” của V để thỏa thuận mua bộ Loa cây Sony gồm có 04 chiếc loa, với giá 3.500.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông M phải chuyển đặt cọc trước số tiền 2.000.000 đồng và ông M đã sử dụng tài khoản số 96666196666 của mình mở tại M2 chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản số 19070192959011 mang tên Cao Đại H2 mở tại T4 (do V cung cấp). Sau đó, V bảo anh H2 chuyển 1.950.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V, còn 50.000 đồng V cho anh H2; đồng thời V chặn mọi liên lạc với ông M và sử dụng số tiền chiếm đoạt được chi tiêu cá nhân hết.
- Lần 2: Ngày 13/10/2023, ông Bùi Quang Đ (trú tại phường K, quận T, thành phố Hà Nội) dùng tài khoản Facebook tên “Trai Quê” nhắn tin M1 với tài khoản Facebook tên “Hoàng Hiệp” của V thỏa thuận mua bộ Loa Sony 9200 Whiteand kt 77 zin, với giá 9.500.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông Đ phải đặt cọc trước số tiền 1.000.000 đồng, ông Đ đã sử dụng tài khoản số 06110019082217 của mình mở tại V2 chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H2 (do V cung cấp). Sau đó, anh H2 đã chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V. Ngay khi nhận được tiền, V đã chặn mọi liên lạc với ông Đ và chiếm đoạt số tiền này, chi tiêu cá nhân hết (không cho anh Hiệp đồng nào).
- Lần 3: Ngày 13/10/2023, ông Nguyễn H (trú tại Thôn N, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook tên “Honey nguyen” nhắn tin Massenger với tài khoản Facebook tên “Hoàng Hiệp” của V thỏa thuận mua bộ L4 5.1, với giá 2.500.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông H phải đặt cọc trước số tiền 400.000 đồng; ông H đã sử dụng tài khoản số 1990301428 của mình mở tại B chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H2 (do V cung cấp). Sau đó, V bảo anh H2 chuyển 370.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V, còn lại 30.000 đồng V cho anh H2; đồng thời V chặn mọi liên lạc với ông H và sử dụng số tiền chiếm đoạt được chi tiêu cá nhân hết.
- Lần 4: Ngày 17/10/2023, ông Hoàng Văn N (trú tại Thôn Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook tên “Hoàng Văn N” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoàng H3” của V để thỏa thuận mua bộ Loa Sony 7.2, với giá 5.800.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông N phải đặt cọc trước số tiền 500.000 đồng; ông N đã sử dụng tài khoản số [...] của mình mở tại V3 chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H3 (do V cung cấp). Sau đó, V bảo anh H3 chuyển 470.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V, còn lại 30.000 đồng V cho anh H3; đồng thời V chặn mọi liên lạc với ông N và sử dụng số tiền chiếm đoạt được chi tiêu cá nhân hết.
- Lần 5: Ngày 20/10/2023, ông Nguyễn Thế K (trú tại Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh) sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn K” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoàng H3” của V để thỏa thuận mua bộ Loa S, với giá 3.900.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông K phải đặt cọc trước số tiền 500.000 đồng; ông K đã sử dụng tài khoản số 22226266666 của mình mở tại M2 chuyển số tiền đặt cọc trên vào số tài khoản 19070192959011 của anh H3 (do V cung cấp). Sau đó, anh H3 đã chuyển hết số tiền 500.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V; ngay khi nhận được tiền, V đã chặn mọi liên lạc với ông K và chiếm đoạt sử dụng cá nhân hết số tiền này (không cho anh Hiệp đồng nào).
- Lần 6: Ngày 21/10/2023, ông Đinh Văn T1 (trú tại Tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook tên “Tu Dinh V1” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoàng H3” của V để thỏa thuận mua bộ Loa Sony 7.2, với giá 6.500.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông T1 phải đặt cọc trước số tiền 500.000 đồng; ông T1 đã sử dụng tài khoản số 8820116959999 của mình mở tại M2 chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H3 (do V cung cấp). Sau đó, anh H3 đã chuyển hết số tiền 500.000 đồng vào tài khoản số [...] của V; ngay khi nhận được tiền, V đã chặn mọi liên lạc với ông T1 và chiếm đoạt sử dụng cá nhân hết số tiền này (không cho anh Hiệp đồng nào).
- Lần 7: Ngày 30/10/2023, ông Đỗ Văn L1 (trú tại Tổ G, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang) sử dụng Facebook tên “Lái Văn Đỗ L2” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoàng H3” của V để thỏa thuận mua bộ Loa Sony 7.2, với giá 5.000.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông L1 phải đặt cọc trước số tiền 400.000 đồng; ông L1 đã sử dụng tài khoản số 3411000087723 của mình mở tại B chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H3 (do V cung cấp). Sau đó, anh H3 đã chuyển hết số tiền 400.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V; ngay khi nhận được tiền, V đã chặn mọi liên lạc với ông L1 và chiếm đoạt sử dụng cá nhân hết số tiền này (không cho anh Hiệp đồng nào).
- Lần 8: Ngày 30/10/2023, ông Đỗ Văn H1 (trú tại Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh) sử dụng tài khoản Facebook tên “Hảo Hảo” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoàng H3” của V để thỏa thuận mua bộ Loa Sony 7.2, với giá 6.900.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông H1 phải đặt cọc trước số tiền 500.000 đồng; ông H1 đã sử dụng tài khoản số 66966669999 của mình mở tại T5 chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H3 (do V cung cấp). Sau đó, anh H3 đã chuyển hết số tiền 500.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V; ngay khi nhận được tiền, V đã chặn mọi liên lạc với ông H1 và chiếm đoạt sử dụng cá nhân hết số tiền này (không cho anh Hiệp đồng nào).
- Lần 9: Ngày 30/10/2023, ông Lê Đ1 (trú tại phường T, quận H, thành phố Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook tên “Dinh Le” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoàng H3” của V để thỏa thuận mua bộ Loa S, với giá 5.500.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông Đ1 phải đặt cọc trước số tiền 500.000 đồng; ông Đ1 đã sử dụng tài khoản số 19029662118019 của mình mở tại T4 chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H3 (do V cung cấp). Sau đó, V bảo anh H3 chuyển 480.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V, còn lại 20.000 đồng V cho anh H3; ngay khi nhận được tiền, V đã chặn mọi liên lạc với ông Đ1.
- Lần 10: Ngày 31/10/2023, ông Phùng Lý N1 (trú tại Đội 4, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ) sử dụng tài khoản Facebook tên “Follow Trai Việt T2” nhắn tin với tài khoản Facebook tên “Hoàng H3” của V để thỏa thuận mua bộ Loa Sony 7.2, với giá 5.000.000 đồng (không có bộ loa thật). V yêu cầu ông N1 phải đặt cọc trước số tiền 2.000.000 đồng; ông N1 đã sử dụng tài khoản số 7662345688888 của mình mở tại M2 chuyển số tiền đặt cọc trên vào tài khoản số 19070192959011 của anh H3 (do V cung cấp). Sau đó, V bảo anh H3 chuyển 1.980.000 đồng vào tài khoản số 0344545499999 của V, còn lại 20.000 đồng V cho anh H3; đồng thời V đã chặn mọi liên lạc với ông N1 và sử dụng số tiền chiếm đoạt được chi tiêu cá nhân hết.
Như vậy, với phương thức và thủ đoạn như trên, từ ngày 27/9/2023 đến ngày 31/10/2023, Đinh Tuấn V đã thực hiện hành vi lừa bán các bộ Loa âm thanh không có thật cho 10 người trong đó có 01 người tỉnh Tuyên Q và 09 người ở các địa phương khác nhau, để chiếm đoạt tổng số tiền đặt cọc 8.300.000 đồng, trong đó V tự nguyện cho anh H3 150.000 đồng, còn lại 8.150.000 đồng Việt chi tiêu cá nhân hết.
Tại Bản Cáo trạng số 25/CT-VKSTQ-P1 ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Đinh Tuấn V về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản cáo trạng đã truy tố.
Các bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt đề nghị bị cáo hoàn trả số tiền đã chuyển cho bị cáo. Bị hại ông Đỗ Văn H1 đã nhận được tiền bị cáo hoàn trả nên không có yêu cầu, đề nghị gì. Về hình phạt, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
N3 có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Đại H2 trình bày: Anh và bị cáo là bạn bè, bị cáo có nhờ anh cho mượn tài khoản nhưng anh không biết V mượn mục đích để làm gì, bị cáo có cho anh tổng số tiền 150.000 đồng cho một số lần nhận tiền qua tài khoản.
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Tuấn V phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Tuấn V từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Đinh Tuấn V phải hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại, cụ thể: Hoàn trả cho ông Ngô Trọng M số tiền 2.000.000 đồng; hoàn trả ông Bùi Quang Đ số tiền 1.000.000 đồng; hoàn trả cho ông Nguyễn H số tiền 400.000 đồng; hoàn trả cho ông Hoàng Văn N số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Nguyễn Thế K số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Đinh Văn T1 số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Đỗ Văn L1 số tiền 400.000 đồng; hoàn trả cho ông Lê Đ1 số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Phùng Lý N1 số tiền 2.000.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo phải hoàn trả cho các bị hại là 7.800.000 đồng. Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền trên tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu đen của bị cáo
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự có giá ngạch và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đinh Tuấn V không có ý kiến tham gia tranh luận.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng được các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Tuyên Quang thống nhất giữ lại để điều tra, truy tố, xét xử (do liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội ở các tỉnh khác), vì vậy thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân tỉnh theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, tất cả các bị hại đều vắng mặt, các bị hại đã được triệu tập hợp lệ và đều có đơn có đơn xin xét xử vắng mặt). Xét thấy, các bị hại đã có lời khai trong quá trình điều tra; bị cáo nhất trí xét xử vắng mặt. Do vậy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Tuấn V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Sao kê tài khoản Ngân hàng; Kết luận giám định, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/9/2023 đến ngày 31/10/2023, Đinh Tuấn V sinh năm 2003 (trú tại Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình) đã dùng tài khoản Facebook của mình tên là “H” để truy cập vào mạng xã hội tải các hình ảnh, bài viết liên quan đến mua, bán thiết bị âm thanh loa, đài. Sau đó, V đăng tải lên tài khoản Facebook của mình và đưa ra thông tin gian dối là bán loa, đài đã qua sử dụng (không có loa, đài thật) để lừa những người có nhu cầu bằng cách yêu cầu người mua phải chuyển khoản đặt cọc trước một số tiền nhất định vào tài khoản số 19070192959011 mang tên Cao Đại H2 mở tại T4 (anh H2 là bạn của V, được V nhờ nhận, chuyển tiền hộ, nhưng không biết V lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác). Sau khi nhận được tiền, V chặn mọi liên lạc với người mua và bảo anh H2 chuyển số tiền vừa nhận đến tài khoản số 0344545499999 của V mở tại M2 để chiếm đoạt (một số lần V tự nguyện cho anh H2 từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng). Bằng phương thức, thủ đoạn trên, V đã thực hiện hành vi lừa bán L3 không có thật cho 10 người trong đó có 01 người tỉnh Tuyên Q và 09 người ở các địa phương khác nhau để chiếm đoạt tổng số tiền đặt cọc là 8.300.000 đồng, trong đó V tự nguyện cho anh H2 150.000 đồng, còn lại 8.150.000 đồng Việt chi tiêu cá nhân hết. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Đinh Tuấn V về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và có học thức. Bị cáo không có các thiết bị âm thanh, loa đài để bán nhưng vẫn đăng bài lên mạng xã hội để đưa ra các thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền đặt cọc của những bị hại. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện nộp tiền để khắc phục hoàn trả thiệt hại, được Hiệu trưởng Trường THCS Q1, huyện K, tỉnh Thái Bình tặng các Giấy khen về danh hiệu học sinh giỏi năm học 2014 -2015, 2015-2016 trong khi học tập, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt; hiện đang là sinh viên Đại học, có nơi cư trú ổn định rõ ràng; bị cáo tuy phạm tội 02 lần trở lên nhưng tất cả các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả; xét tính chất mức độ phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
[4] Về mức án Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh Tuấn V lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại, nên cần buộc bị cáo phải hoàn trả cho các bị hại. Cụ thể: Hoàn trả cho ông Ngô Trọng M số tiền 2.000.000 đồng; hoàn trả cho ông Bùi Quang Đ số tiền 1.000.000 đồng; hoàn trả cho ông Nguyễn H số tiền 400.000 đồng; hoàn trả cho ông Hoàng Văn N số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Nguyễn Thế K số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Đinh Văn T1 số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Đỗ Văn L1 số tiền 400.000 đồng; hoàn trả cho ông Lê Đ1 số tiền 500.000 đồng; hoàn trả cho ông Phùng Lý N1 số tiền 2.000.000 đồng. Tổng số tiền phải hoàn trả cho các bị hại là 7.800.000 đồng. Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền trên tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang. Đối với ông Đỗ Văn H1 trong quá trình điều tra bị cáo Đinh Tuấn V đã tự nguyện hoàn trả cho ông H1 số tiền 500.000 đồng nên không có yêu cầu, đề nghị gì.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max đã thu giữ của bị cáo Đinh Tuấn V. Xét thấy đây là phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sũng quỹ Nhà nước.
[7] Đối với việc anh Cao Đại H2 (bạn của bị cáo V), được V nhờ nên đã cho V mượn số tài khoản ngân hàng của mình, sau đó V đã cung cấp số tài khoản cho các bị hại để chuyển tiền đặt cọc mua Loa âm thanh theo yêu cầu của V; sau đó V bảo anh H2 chuyển số tiền nhận được vào tài khoản ngân hàng của V để chiếm đoạt, chi tiêu cá nhân hết. Quá trình điều tra xác định anh H2 không biết V có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác; không biết những số tiền chuyển vào tài khoản của mình là do V lừa đảo mà có, nên một số lần V cho từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng, anh H2 đã nhận và chỉ nghĩ là V đang làm ăn bình thường. Do đó không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Cao Đại H2.
[8] Về án phí: Bị cáo Đinh Tuấn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Tuấn V phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đinh Tuấn V 08 (T3) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (Bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/5/2024.
Giao bị cáo Đinh Tuấn V cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo Đinh Tuấn V cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm hoàn trả dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Đinh Tuấn V phải hoàn trả lại cho các bị hại tổng số tiền là 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Cụ thể
- Hoàn trả cho ông Ngô Trọng M số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng);
- Hoàn trả cho ông Bùi Quang Đ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng);
- Hoàn trả cho ông Nguyễn H số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng);
- Hoàn trả cho ông Hoàng Văn N số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng);
- Hoàn trả cho ông Nguyễn Thế K số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng);
- Hoàn trả cho ông Đinh Văn T1 số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng);
- Hoàn trả cho ông Đỗ Văn L1 số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng);
- Hoàn trả cho ông Lê Đ1 số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng);
- Hoàn trả cho ông Phùng Lý N1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Tổng số tiền bị cáo Đinh Tuấn V phải hoàn trả cho các bị hại là 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền trên tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, theo Quyết định về việc chuyển tiền từ tài khoản tạm giữ chờ xử lý của Sở Tài chính tỉnh T vào tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, số 116/QĐ-STC ngày 14 tháng 5 năm 2024.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (Một) bì niêm phong bằng giấy màu trắng dán kín, tại các mép dán có chữ ký xác nhận của người liên quan và các hình dấu của Phòng C Công an tỉnh T; bên ngoài bì giấy có dòng chữ viết tay “Điện thoại di động của Đinh Tuấn V”. Trong bì niêm phong có 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, dung lượng 64 GB, IMEI 1: 353105103796314, IMEI 2: 353105103823357; bên trong lắp 01 (Một) sim nhà mạng Viettel số 0335.849.xxx, số seri: 89840480009076760746; điện thoại di động đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 10/5/2024).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Tuấn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 390.000 đồng (Ba trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (được kháng cáo phần có liên quan) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/5/2024. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Giàng A Ngài – Lương Viết Quang | Nguyễn Đức Nam |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nam |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Tuấn V phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
