Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 tháng 4 năm 2024

“V/v tranh chấp về hôn nhân

và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và ông Phan Trọng Điền.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 326/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1989; Đăng ký HKTT: tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1989; Đăng ký HKTT: đường H, tổ I, khóm C, phường C B, thành phố châu Đ, tỉnh An Giang.

Bà H vắng mặt (có đơn xét xử vắng mặt), ông L vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé H trình bày:

Bà H và ông L quen biết nhau đến năm 2008, có tổ chức lễ cưới, năm 2009 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 325/HT, quyển số 02/2009, cấp ngày 26/12/2009.

Vợ chồng cùng sống bên vợ nhưng ông L không lo làm ăn lại tham gia cờ bạc gây ra nợ nần; bà H vừa chăm sóc con vừa đi làm thuê để kiếm tiền lo cuộc sống gia đình, còn ông L thì cứ bỏ mặc vợ con, từ đó vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, bà H yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng Trung H1, sinh ngày 26/10/2009, Nguyễn Phương Bảo H2, sinh ngày 13/7/2017 và Nguyễn Hoàng Bá H3, sinh ngày 23/8/2019. Bà H yêu cầu được nuôi 03 con chung và yêu cầu ông L cấp dưỡng mỗi tháng 5.000.000 đồng cho 03 đứa con.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L, nhưng ông L vẫn không đến Tòa án nên không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

* Phát biểu của Kiểm sát viên :

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 BLTTDS năm 2015; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt nhiều lần không lí do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Năm 2008, bà Nguyễn Thị Bé H và ông Nguyễn Hoàng L tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Theo nguyên đơn quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do ông L không lo phụ giúp kinh tế gia đình, mà chỉ biết cờ bạc, gây nợ nần. Nhận thấy, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng L mặc dù được tống đạt hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ, trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Xét vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, cả hai xảy ra mâu thuẫn. Trong suốt quá trình hòa giải của Tòa án cả hai không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà H yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông L có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng H1, sinh ngày 26/10/2009; Nguyễn Phương Bảo H2, sinh ngày 13/7/2017 và Nguyễn Hoàng Bá H3, sinh ngày 23/8/2019, hiện đang sống cùng bà H, bà yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi 03 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng. Xét, hiện con chung đang sống cùng bà H để

đảm bảo ổn định cuộc sống, tâm lý của con, việc giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dạy là phù hợp quy định pháp luật, nguyện vọng của con.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng con chung 5.000.000 đồng/tháng/03 con chung. Thấy rằng theo quy định pháp luật (Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014), người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án bà H không cung cấp chứng cứ chứng minh thu nhập của ông L cũng như chứng từ thể hiện nhu cầu thiết yếu của con chung nên xét chấp nhận bằng ½ mức lương cơ bản (tương đương 900.000 đồng/con chung/tháng).

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hoàng L. Giao con chung tên Nguyễn Hoàng H1, sinh ngày 26/10/2009; Nguyễn Phương Bảo H2, sinh ngày 13/7/2017 và Nguyễn Hoàng Bá H3, sinh ngày 23/8/2019 cho bà H tiếp tục nuôi dạy, ông L phải cấp dưỡng nuôi dạy 03 con chung, mức cấp dưỡng mỗi tháng 900.000 đồng/tháng/một người con.

Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng L được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa 2 lần nhưng vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử tiến hành vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  1. Xét về quan hệ hôn nhân, bà H và ông L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 325/HT, quyển số 02/2009, cấp ngày 26/12/2009 nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
  2. Bà H xin ly hôn ông L, nêu nguyên nhân ông L không lo phụ giúp kinh tế gia đình, mà chỉ biết cờ bạc, gây nợ nần. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L nhiều lần vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì về việc ly hôn. Từ đó, cho thấy ông L không thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà H có căn cứ chấp nhận.
  1. Về con chung: Bà H và ông L có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng Trung H1, sinh ngày 26/10/2009, Nguyễn Phương Bảo H2, sinh ngày 13/7/2017 và Nguyễn Hoàng Bá H3, sinh ngày 23/8/2019. Xét 03 con chung hiện do bà H nuôi dạy, đảm bảo về thể chất, tinh thần của các cháu. Bên cạnh đó nguyện vọng của cháu H1 và cháu H2 được tiếp tục sống cùng mẹ. Do đó, chấp nhận giao 3 con chung H1, H2 và H3 cho bà H được tiếp tục nuôi dạy cho đến trưởng thành.
  2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Xét quá trình giải quyết vụ án bà H không cung cấp chứng cứ chứng minh thu nhập của ông L cũng như chứng từ thể hiện nhu cầu thiết yếu của con chung, do đó, chấp nhận bằng ½ mức lương cơ bản (900.000 đồng/con chung/tháng). Buộc ông L cấp dưỡng mỗi con 900.000 đồng cho đến khi thành niên và có khả năng lao động.

Bà H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé H

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 325/HT, quyển số 02/2009 của Ủy ban nhân dân Phường C, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang cấp ngày 26/12/2009 không còn giá trị pháp lý.

  1. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bé H được quyền nuôi dạy 03 con chung tên Nguyễn Hoàng Trung H1, sinh ngày 26/10/2009, Nguyễn Phương Bảo H2, sinh ngày 13/7/2017 và Nguyễn Hoàng Bá H3, sinh ngày 23/8/2019.

Buộc ông Nguyễn Hoàng L có nghĩa vụ cấp dưỡng 03 con chung (900.000 đồng/tháng/một người con) cho đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Bé H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003537 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà H đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Hoàng L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con).

  1. Quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bé H và ông Nguyễn Hoàng L là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát ND Tỉnh (1)
  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1)

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger