|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày 23-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Bình
Bà Hồ Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị Trúc A
sinh ngày 13 tháng 7 năm 2002 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Minh T và bà Trần Thị Mỹ L; chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Trần Chí T1, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 17/9/2023 anh Trần Chí T1 vào phòng ngủ ở nhà của mình thuộc ấp I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, phát hiện mất trộm 01 chiếc nhẫn loại vàng 24k trọng lượng 05 chỉ, 01 chiếc lắc loại vàng 24k, trọng lượng 05 chỉ và 4.000.000 đồng tiền mặt, nên đến Cơ quan Công an xã Đ, huyện A để trình báo.
Qua điều tra xác minh thì xác định được, vào ngày 12/9/2023 Trần Thị Trúc A thấy anh ruột của mình là Trần Chí T1 đi vắng không có ở nhà nên Trúc A lén lúc vào phòng ngủ của anh T1 lục soát lấy trộm 1.000.000 đồng trong túi quần của anh T1 treo trên vách tường, rồi đem đi tiêu xài cá nhân. Tiếp tục đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/9/2023 bị can Trúc A lấy tour vít mở khoá cửa phòng của anh T1 và trộm 01 chiếc nhẫn vàng loại 24k, trọng lượng 05 chỉ, theo kết luận định giá tài sản là 26.500.000 đồng, lần thứ 3 vào ngày 15/9/2023 bị can Trúc A lấy trộm của anh T1 01 chiếc lắc vàng loại 24k, trọng lượng 05 chỉ, theo kết luận định giá là 27.500.000 đồng, lần thứ 4 ngày 17/9/2023 bị can lại tiếp tục cạy cửa phòng ngủ của anh T1 và lấy trộm 3.000.000 đồng tiền mặt rồi đi thành phố Hồ Chí Minh chơi. Sau đó, Trúc A bị phát hiện và mời về cơ quan Công an để làm việc. Tại cơ quan điều tra Trần Thị Trúc A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 22/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang ra yêu cầu Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37 /KL-HĐĐGTS ngày 09/11/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 (một) chiếc lắc vàng 24k trọng lượng 05 chỉ có giá là 27.500.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn vàng 24k trọng lượng 05 chỉ có giá là 26.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản theo định giá là 54.000.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 Chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại 12 Promax số IMEI1: 356717117118397, số IMEI2: 356717116975854 đã qua sử dụng; 1.500.000 đồng tiền mặt; 01 chiếc nhẫn kiểu nữ màu vàng có đính hột. Đây là tài sản mà bị can Trần Thị Trúc A đã mua được từ số tiền bán tài sản trộm cắp. Cơ quan CSĐT Công an huyện A đã trả lại cho ông Trần Chí T1 theo thoả thuận giữa bị can và bị hại vào ngày 20/02/2024 và phía bị hại anh T1 đồng ý nhận số tài sản nêu trên không có yêu cầu gì thêm.
Về trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-AM ngày 19-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Thị Trúc Anh về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Thị Trúc A phạm tội trộm cắp tài sản và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51,
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.
- - Bị cáo Trúc A thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đúng như nội dung Cáo trạng và luận tội đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị hại anh T1 trình bày: xác định đã được bị cáo cùng mẹ bị cáo bồi thường phần thiệt hại, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về hình sự đề nghị xử theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Từ ngày 12/9/2023 đến ngày 17/9/2023 tại ấp I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Trần Thị Trúc A đã 04 lần thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của anh Trần Chí T1 là số tiền 4.000.000đồng; 01 (một) chiếc lắc vàng 24k trọng lượng 05 chỉ; 01 (một) chiếc nhẫn vàng 24k trọng lượng 05 chỉ. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 09/11/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận tổng giá trị tài sản cần định giá là 54.000.000 đồng. Như vậy, tài sản bị cáo Trúc A chiếm đoạt của anh T1 bao gồm số tiền và vàng có tổng giá trị là 58.000.000 đồng.
[2.2] Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; có khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản và tài sản
bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 58.000.000 đồng, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Thị Trúc A phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo 04 lần thực hiện hành vi phạm tội, trong đó có 03 lần đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; bị cáo chiếm đoạt tài sản của chính anh ruột bị cáo và đang sống chung nhà nên gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt tương đối lớn. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại xác định đã được bị cáo và gia đình bồi thường đầy đủ. HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhằm răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình thấy bị cáo từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật, mới phạm tội lần đầu nên xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là đủ răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bị hại anh T1 đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A giao cho anh nhận 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại 12 Promax số IMEI1: 356717117118397, số IMEI2: 356717116975854 đã qua sử dụng; số tiền 1.500.000 đồng; 01 chiếc nhẫn kiểu nữ màu vàng có đính hột, đây là tài sản bị cáo mua được từ số tiền bán tài sản trộm cắp của anh T1; anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[5] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Trúc A phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc A 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2- Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Thị Trúc A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23-4-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Trúc T phạm tội Trộm cắp tài sản
