|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày 22 - 5 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Kỳ Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Bùi Thị Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Danh - Thư ký tòa án, Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Bạo - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 21/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quốc D, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1987 tại xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm: 1956; con bà Lê Thị T, sinh năm 1959, cả bố và mẹ hiện sinh sống tại xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo chưa có vợ, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987
Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
- Anh Lê Đức Đ1, sinh năm 1978
Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979
Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1980
Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa, có mặt anh T1, anh Đ1, anh H và anh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9 năm 2023, Nguyễn Quốc D có vay của anh Nguyễn Văn T1 người cùng thôn số tiền 2.000.000đ. Đến tháng 10 năm 2023 anh T1 hỏi nợ nên D có vay tiền của anh Nguyễn Văn A cùng thôn để trả nợ cho anh T1. Do anh T1 cũng đang nợ anh A 2.000.000₫ nên anh A bảo để gạt số nợ của anh T1 sang cho D nhưng anh T1 không đồng ý và nói với D "ai nợ tiền người đó trả".
Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2023, sau khi đã uống rượu D điều khiển xe mô tô đến nhà anh A để uống nước và hát Karaoke. Khi đi đến ngã ba cách nhà anh A khoảng 60m thì D gặp anh T1 đang đứng nói chuyện với anh Lê Đức Đ1. Do trước đó có mâu thuẫn với anh T1 về việc vay nợ nên D có chửi anh T1 “Địt mẹ mi có 2.000.000₫ đòi cái đéo gì". Anh T1 nói lại “Địt đéo gì mà địt lắm rứa”. Lúc này D không nói thêm gì mà đi lại nhà anh A nhưng anh A không có nhà nên D đứng ở ngoài sân. Sau khi nói chuyện với anh Đ1 xong, khoảng 03 đến 04 phút thấy anh T1 đi xe máy về phía mình. D thấy 01 con dao bài (loại dao một luỡi sắc) dài khoảng 40 cm, cán bằng gỗ để trên bờ tường giáp danh giữa nhà anh A với nhà anh Nguyễn Văn H nên giắt vào sau lưng rồi đi ra ngoài đường. Khi anh T1 đi đến nơi, D chặn xe lại và nói “Ý mi giờ như thế nào”. Anh T1 trả lời “Mi giỏi thì mi chém tau đi". D và anh T1 có chửi bới, thách thúc lẫn nhau thì được anh H đến can ngăn đẩy hai người ra xa. Anh T1 xông lại gần để thách thức D đánh mình. Lúc này D lấy dao từ sau lưng chém trúng vào 1/3 trên cánh tay trái của anh T1 gây thương tích. Thấy vậy anh H giật lấy dao từ tay D ném vào phía vườn nhà anh A, xô D vào phía sân nhà mình rồi đóng cổng ngõ lại. Anh T1 bị thương nhưng vẫn đứng ngoài chửi bới và thách thức D đánh mình, Sau đó, có thêm người dân ra can ngăn, sơ cứu vết thương và gọi xe taxi đưa anh T1 đến bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị.
Sau khi gây thương tích cho anh T1, Nguyễn Quốc D tự nguyện đến Công an xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa khai báo nội dung vụ việc và giao nộp 01 con dao là hung khí D dùng để chém anh T1 gây thương tích.
* Tại biên bản làm việc, xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Nguyễn Văn T1 hồi 13 giờ 00 phút ngày 13/10/2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T của Công an xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ghi nhận thương tích như sau: Vết thương hở 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái, kích thước 8x4 cm, bờ mép sắc gọn.
* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Nguyễn Văn T1 hồi 10 giờ 00 phút ngày 19/10/2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa ghi nhận thương tích như sau:
- Hiện tại bệnh nhân có sẹo mổ vùng 1/3 trên cánh tay trái dài 08 cm;
- Bệnh nhân bị đứt gân cơ tam đầu cánh tay, gãy xương mõm cùng vai đã được phẩu thuật nổi gân cơ tam đầu cánh tay trái.
Cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu bệnh án quá trình điều trị thương tích của anh Nguyễn Văn T2. Ngày 20/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 222 và 223/QĐ-ĐTTT yêu cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra và vật gây thương tích đối với anh Nguyễn Văn T1.
* Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 2001/KLTTCT - PYTH ngày 27/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
1. Kết quả khám giám định:
- Vết thương vùng 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái gây tổn thương:
- + Đứt cơ tam đầu cánh tay trái đã được xử lý phẫu thuật nối cơ tam đầu cánh tay trái, hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vắt chéo qua bờ trên ngoài mỏm cùng vai trái, kèm yếu cánh tay trái mức độ ít: 07% (Thông tư 22/2019/TT-BYT: Bảng 1; chương 8; mục II; 6).
- + Vỡ mõm cùng vai trái kèm theo có mảnh xương rời: 06% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; mục I; 6.2).
Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ % tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T1 tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về vật gây thương tích số 2002/KLVGTT - PYTH ngày 14/12/2023 của Trung tâm P kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả nghiên cứu mẫu vật: Con dao bài, bằng kim loại, dài khoảng 40cm, nơi rộng nhất lưỡi dao khoảng 6cm; Lưỡi dao là vật có cạnh sắc hoặc vật tày có cạnh (trong trường hợp lưỡi dao cùn). Cán dao là vật tày hoặc vat tày có cạnh.
- Đặc tính gây thương tích của mẫu vật: Nếu dùng lưỡi dao làm vật gây thương tích thì gây ra các tổn thương rách da, cơ, mô mềm, bờ mép vết thương sắc gọn (trường hợp lưỡi dao sắc); bờ mép vết thương nham nhở (trong truờng hợp lưỡi dao cùn); nếu sử dụng cán dao làm vật gây thương tích sẽ gây ra các tổn thương sưng nề, bầm tím, bờ mép vết thương rách da nham nhở.
- Mối tương quan giữa mẫu vật với những tổn thương qua hồ sơ tài liệu trên người được đưa đến giám định: Qua nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp thì đặc điểm các tổn thương trên thân thể của Nguyễn Văn T1 là các tổn thương rách da cơ, mô mềm, bờ mép vết rách sắc gọn phù hợp với vật có cạnh sắc (có thể là do dùng dao chém)
- Kết qủa đối chiếu mẫu vật với thương tích: Phù hợp.
- Kết quả thực nghiệm, hội chẩn: Phù hợp giữa mẫu vật được mô tả do cơ quan trưng cầu cung cấp và các tổn thương được ghi nhận trong hồ sơ giám định của đối tượng giám định.
2. Kết luận: Căn cứ vào hồ sơ và các tài liệu do Cơ quan trưng cầu cung cấp xác định:
- Vết thương hở 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái kích thước 8x4 cm bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực, được tạo bởi vật có cạnh sắc.
- Tại thời điểm giám định pháp y về vật gây thương tích; không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích. Trung tâm pháp y nhận định về chiều hướng tác động của vật gây thương tích như sau:
- + Vết thương hở 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái kích thước 8x4 cm bờ mép sắc gọn: Vết có chiều từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong chếch từ trái sang phải.
* Về vật chứng vụ án: 01 (một) con dao bài đã qua sử dụng, dài 38cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, đường kính cán dao 03cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm, loại dao 01 lưỡi sắc, đầu mũi dao tù, bề rộng lưỡi dao từ 2,5cm đến 6,5cm. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 yêu cầu Nguyễn Quốc D phải bồi thường các khoản chi phí sau:
- Tiền viện phí trong quá trình điều trị tại bệnh viên Đa khoa tỉnh Thanh Hóa từ ngày 12/10/2023 đến ngày 19/10/2023 là: 6.544.384₫;
- Tiền thuốc mua theo đơn là: 1.602.020₫;
- Tiền thuốc mua tại Công ty TNHH D1 là: 17.397.750đ;
- Tiền thuốc mua ngoài theo đơn bán lẻ là: 25.000.000₫;
- Tiền thuốc nam xoa bóp liền xương và thuốc nam uống là: 5.000.000đ;
- Tiền công người theo chăm sóc 07 ngày x 200.000đ/ngày = 1.400.000₫;
- Tiền mất thu nhập 07 ngày nằm viện và 03 tháng không lao động sau khi xuất viện (01 tháng tính = 26 ngày công), tổng 85 ngày x 400.000₫ = 34.000.000₫;
- Tiền taxi đi lại trong quá trình điều trị 7 chuyến x 500.000₫ = 3.500.000₫;
Tổng cộng 94.444.154₫ (Chín mươi tư triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn một trăm năm mươi tư đồng).
Ngoài ra anh T1 còn yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường dân sự, anh Nguyễn Văn T1 đã nhận số tiền bồi thường từ Nguyễn Quốc D là 65.000.000đ và đề nghị Tòa án không giải quyết về việc bồi thường dân sự, đồng thời đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSNC ngày 20/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 24 tháng đến 28 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 56 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận và bồi thường với nhau đầy đủ, bị hại đề nghị Hội đồng không giải quyết về phần bồi thường. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy con dao bị cáo đã dùng để chém anh T1 hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong phạm vi Tòa án xét xử đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh:
Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2023, tại thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, do có mâu thuẫn từ trước về việc vay tiền nên giữa Nguyễn Quốc D và anh Nguyễn Văn T1 có xảy ra cãi nhau, thách thức nhau dẫn đến việc Nguyễn Quốc D đã dùng 01 con dao bài đã qua sử dụng, dài 38cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, đường kính cán dao 03cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm, loại dao 01 lưỡi sắc, đầu mũi dao tù, bề rộng lưỡi dao từ 2,5cm đến 6,5cm chém một nhát vào 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái của anh T1 có kích thước 8x4 cm gây đứt cơ tam đầu cánh tay trái và vỡ mõm cùng vai trái làm tổn hại 13% sức khỏe của anh Nguyễn Văn T1.
Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc D dùng hung khí nguy hiểm xâm hại trực tiếp bị hại Nguyễn Văn T1, làm cho anh T1 bị tổn hại 13% sức khỏe, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những gây thiệt hại về sức khoẻ của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an xã hội do đó cần phải được xử lý nghiêm minh.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được bồi thường dân sự và bị hại không có yêu cầu gì khác, vì vậy chấp nhận bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao bài đã qua sử dụng, dài 38cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, đường kính cán dao 03cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm, loại dao 01 lưỡi sắc, đầu mũi dao tù, bề rộng lưỡi dao từ 2,5cm đên 6,5cm là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên bố: Nguyễn Quốc D phạm tội “Cố ý gây thương tích"
Xử phạt: Nguyễn Quốc D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/5/2024).
Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo đã thực hiện xong trách nhiệm dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bài đã qua sử dụng, dài 38cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, đường kính cán dao 03cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm, loại dao 01 lưỡi sắc, đầu mũi dao tù, bề rộng lưỡi dao từ 2,5cm đên 6,5cm
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa và chi cục THADS huyện N, tỉnh Thanh Hóa ngày 20/3/2024).
4. Về án phí: Nguyễn Quốc D phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo và bị hại. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Võ Kỳ Anh |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc D phạm tội Cố ý gây thương tích
