Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày 22 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoài Phong

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Phương V, sinh năm 1995 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ P; tiền án: 01. Ngày 12/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/10/2023; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong; Ngày 08/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 8 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong; bị bắt, tạm giữ ngày 09/01/2024 chuyển tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 09/01/2024, Công an huyện Đ kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Phương V và Nguyễn Hữu T tại quán C thuộc khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ phát hiện bên trong túi áo của V có gói ni lông màu trắng nghi vấn là ma túy nên lập biên bản thu giữ tang vật cùng các vật chứng khác. Quá trình điều tra còn xác minh được, khoảng 5 giờ cùng ngày, V đến nhà người bạn tên H không rõ lai lịch ở khu vực phường E, thành phố C mượn xe hiệu Exciter biển số 69D1-116.76 và chở người tên Nhóc D không rõ lai lịch đến khu vực phường G, thành phố C trộm cắp xe máy 69F1-381.58 của Ngô Văn H1 và Nhóc D về cất giấu xe và giao xe cho T điều khiển về Đ tìm nơi tiêu thụ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, V nảy sinh ý định mua ma túy nên gặp người phụ nữ tại khóm C, phường G, thành phố C mua 100.000 đồng ma túy đá. Sau đó V điều khiển xe về Đầm Dơi và bị bắt quả tang như trên.

Tại kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận các tinh thể màu trắng bên trong gói nilong đã được niêm phong khi thu giữ của Nguyễn Phương V là ma túy, có tổng khối lượng 0,2827 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Nguyễn Phương V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương V mức án từ 1 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một phong bì hình chữ nhật bên trong có một phong bì và một gói ni lông dùng gói tinh thể màu trắng; Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận với Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là sai trái, làm ảnh hưởng đến gia đình xã hội, bị cáo thực sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phương V thừa nhận: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 09/01/2024, bị cáo bị Công an huyện Đ kiểm tra bắt quả tang trên người có một gói ni lông, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma tuý đá mà V mua về sử dụng, khối lượng 0,2827 gam, loại Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo V gây ra là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo đã đủ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự. Mặc dù bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật, bị cáo biết rõ ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bản thân bị cáo, là tệ nạn nhức nhối của toàn xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, đặc biệt hơn là gây ra tâm lý bất an trong nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm hình sự khác nhưng bị cáo vì thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh của bản thân mà vẫn bất chấp pháp luật, cố ý tàng trữ ma túy trái phép để sử dụng. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi vi phạm của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo có cha là người có công cách mạng được tặng bằng khen và huân chương chiến sĩ vẽ vang hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, nhân thân của bị cáo không tốt, bị cáo từng bị xử phạt 8 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Ngoài ra, bị cáo còn bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng. Lẽ ra, bị cáo phải biết hối cải để sửa sai nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Đây sẽ là tình tiết Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không chứng minh được nhân thân lai lịch. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.

[7] Đối với Nguyễn Hữu T không biết V tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đặt ra xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

[8] Đối với hành vi của V lén lút lấy trộm xe máy của anh Ngô Văn H1 tại địa bàn thành phố C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển vụ việc và tang vật cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết là phù hợp.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy một phong bì hình chữ nhật bên trong có một phong bì, một gói ni lông dùng gói tinh thể màu trắng là vật không có giá trị sử dụng.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO gắn sim 0919.385.265 là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội.
  • - Đối với hai chiếc honda xe hiệu Exciterbiển kiểm soát 69F1- 381.58 và 69D1 -116.76, đã xử lý chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý trong vụ án khác là đúng quy định.

[11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương V 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một phong bì hình chữ nhật niêm phong mẫu gửi giám định, bên trong có một phong bì hình chữ nhật và một bao gói ni lông dùng gói tinh thể màu trắng; Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Phương V một điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng đen đã qua sử dụng gắn sim số 0919.385.265

(Số vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi quản lý theo biên bản giao nhận ngày ngày 08 tháng 4 năm 2024).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Phương V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Người liên quan;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện Đầm Dơi;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Đầm Dơi;
  • - Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Ngọc Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy, phạm tội quả tang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger