TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HSST
Ngày: 22/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
– Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Minh Tiến
- Bà Vũ Thị Thuỳ Dương
– Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Trương Văn C, sinh năm 1975 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn H, sinh năm: không rõ (đã chết) và bà Lê Thị B, sinh năm 1937 (còn sống); gia đình có 09 anh em, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1979, bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không có; Nhân thân: năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tuyên phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 27/HSST ngày 06/02/2001; Năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ tuyên phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Dâm ô với trẻ em” theo bản án số 02/HSST ngày 08/01/2014.
- Lê Quốc L, sinh năm 1982 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: cơ khí; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quốc K, sinh năm 1954 (còn sống) và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1956 (còn sống); gia đình có 04
- Lưu Uy T1, sinh năm 1985 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: hoa; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu A S, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Phùng Ngọc T2, sinh năm 1959 (còn sống); gia đình có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1991, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ và tên vợ Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không có.
- Hoàng Văn D, sinh năm 1981 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): biết chữ; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn H3, sinh năm không rõ (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm không rõ (đã chết); gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ và tên vợ Đinh Thị T4, sinh năm 1981; có 01 người con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không có.
- Huỳnh Văn T5, sinh năm 1986 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: thợ sắt; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn R, sinh năm 1959 (còn sống) và bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1962 (còn sống); gia đình có 06 chị em, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1994, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ và tên vợ Nguyễn Thị Phương B1, sinh năm 1990; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 21/12/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2023 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho đến nay.
anh em, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1987, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ và con: vợ bà Võ Thị Y, sinh năm 1994, chưa có con; Tiền án: năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ tuyên phạt số tiền 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 55/HS-ST ngày 02/11/2018. Nộp tiền phạt vào ngày 15/12/2023; Tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 21/12/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2023 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 21/12/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2023 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 21/12/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2023 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 21/12/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2023 tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 là bạn bè quen biết nhau.
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Trương Văn C gọi điện thoại rủ Lê Quốc L, Hoàng Văn D đến nhà Chung chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền thì L, D đồng ý. Sau đó, L cùng D đến nhà Chung nhưng chưa đủ người để đánh bạc nên L, D, C ngồi uống nước nói chuyện một lúc thì T1 đến. L, D, T1 lấy bộ cờ cá ngựa do C chuẩn bị sẵn rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền. Lúc này C đi làm, trước khi đi C để lại số tiền 180.000 đồng trong hộc bàn gồm các mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng cho các bị cáo tham gia đánh bạc có tiền lẻ đổi để chung chi. Khi L, T1, D chơi được khoảng 02 ván thì Huỳnh Văn T5 đến và vào chơi cùng. Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L và Lưu Uy T1 đánh bạc đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang.
* Hình thức đánh bạc như sau: Các đối tượng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Cờ cá ngựa”, sử dụng bộ cờ cá ngựa gồm 01 bàn cờ hình vuông có ô vuông ở bốn góc (gọi là chuồng ngựa); 16 con ngựa (chia làm 04 màu đỏ, vàng, xanh dương, xanh lá cây, mỗi màu 04 con); 02 hạt xúc xắc, mỗi hạt có 06 mặt, mỗi mặt có nút chấm tương ứng từ 01 đến 06 nút. Mỗi người đánh bạc sẽ có 04 quân cờ cá ngựa, người chơi sẽ đổ 02 hạt xúc xắc vào chén, mặt xúc xắc hiện lên số điểm, người chơi sẽ đi quân cờ trên bàn cờ tương đương số điểm đã lắc. Người nào có 04 quân cờ ngựa hoàn thành hết vòng đi và “về chuồng” trước sẽ thắng 03 người còn lại. Số tiền thắng cược được tính là 20.000 đồng x 01 con ngựa chưa “về chuồng”. Ngoài ra, khi “quân cờ ngựa” di chuyển trên đường và bị đá rớt khỏi đường đi thì người có “quân cờ ngựa” bị đá sẽ chung số tiền 20.000 đồng. Quá trình đánh bạc, người thắng mỗi ván sẽ bỏ ra số tiền 10.000 đồng qua một bên, số tiền này sẽ dùng trả tiền mua nước và tiền xâu cho Trương Văn C.
Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc như sau:
- Bị cáo Lê Quốc L sử dụng số tiền 4.800.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị thu giữ trên người số tiền 4.230.000 đồng.
- Bị cáo Lưu Uy T1 sử dụng số tiền 4.620.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị thu giữ trên người số tiền 4.240.000 đồng.
- Bị cáo Huỳnh Văn T5 sử dụng số tiền 903.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị giữ trên người số tiền 603.000 đồng.
- Bị cáo Hoàng Văn D sử dụng số tiền hơn 4.570.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị thu giữ trên người số tiền 4.000.000 đồng.
- Bị cáo Trương Văn C gọi điện thoại rủ rê Lê Quốc L và Hoàng Văn D đến nhà để đánh bạc ăn thua bằng tiền, đồng thời chuẩn bị, cung cấp dụng cụ đánh bạc là bộ cờ cá ngựa và số tiền 180.000 đồng tiền lẻ để những người tham
gia đánh bạc đổi tiền chung chi tiền cược nhằm thu lợi từ việc bán nước và thu tiền xâu của những người tham gia đánh bạc trên.
Các bị cáo Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L và Lưu Uy T1 có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi cờ cá ngựa là hình thức nhiều người đánh bạc với nhau nên số tiền dùng để đánh bạc của từng bị cáo là tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, cụ thể: 1.750.000 đồng + 250.000 đồng + 13.073.000 đồng = 15.073.000đ (mười lăm triệu không trăm bảy mươi ba ngàn) đồng.
Bị cáo Trương Văn C có hành vi gọi điện thoại rủ Lê Quốc L và Hoàng Văn D đến nhà để đánh bạc ăn thua bằng tiền, sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình cho các bị cáo đánh bạc, cung cấp công cụ, phương tiện đánh bạc là bộ cờ cá ngựa và số tiền 180.000 đồng tiền lẻ cho những người tham gia đánh bạc để hưởng lợi từ việc bán nước và thu tiền xâu, hành vi của C có dấu hiệu của tội Gá bạc, tuy nhiên, do chỉ có một chiếu bạc, số người tham gia đánh bạc dưới 10 người, đồng thời C chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc” do đó không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.
* Vật chứng vụ án, việc xử lý vật chứng:
- Số tiền 15.073.000đ (mười lăm triệu không trăm bảy mươi ba ngàn đồng). Trong đó, tiền thu trên chiếu bạc 1.750.000 đồng; tiền thu trên người các bị can 13.073.000 đồng, tiền phục vụ đổi tiền để chung chi 180.000 đồng, tiền mua nước uống 40.000 đồng, tiền xâu 30.000 đồng.
- 01 bộ cờ cá ngựa gồm: 01 bàn cờ, 16 quân cờ cá ngựa, có 04 màu (đỏ, vàng, xanh dương, xanh lá cây), mỗi màu 04 quân cờ.
- 01 chén sứ màu trắng.
- 02 viên xúc xắc, mỗi viên có 06 mặt, mỗi mặt có có nút chấm tương ứng từ 01 đến 06.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh thu giữ của Trương Văn C
- 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh thu giữ của Hoàng Văn D.
Quá trình điều tra xác định D không sử dụng điện thoại di động trên vào mục đích đánh bạc. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho Hoàng Văn D theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKS-CM ngày 11 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố các bị cáo: Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Chung, D, T5, T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo L lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D, T5, T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Chung sau khi phạm tội đã ra đầu thú, có chị gái là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Trương Văn C mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù giam.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Quốc L mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù giam.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018 ngày 15 tháng 5 năm 2018; Nghị quyết số 01/2022 ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Hoàng Văn D mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Lưu Uy T1 mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Huỳnh Văn T5 mức án từ 06 tháng đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 3 Điều 321, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với bị cáo D, T1, T5.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 15.073.000đ (mười lăm triệu không trăm bảy mươi ba ngàn) đồng.
Vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 bộ cờ cá ngựa gồm 01 bàn cờ, 16 quân cờ cá ngựa, có 04 màu (đỏ, vàng, xanh dương, xanh lá cây), mỗi màu 04 quân cờ; 01 chén sứ màu trắng; 02 viên xúc xắc, mỗi viên có 06 mặt, mỗi mặt có có nút chấm tương ứng từ 01 đến 06 là công cụ dùng vào việc phạm tội. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh thu giữ của bị cáo Trương Văn C là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Phần tranh luận các bị cáo trình bày không có ý kiến gì về mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 18/12/2023, tại nhà của bị cáo Chung thuộc ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo D, T5, L và T1 đang đánh bạc trái pháp luật bằng hình thức chơi “Cờ cá ngựa” được thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang với tổng số tiền thu giữ là 15.073.000 đồng.
Các bị cáo D, T5, L và T1 là những người trực tiếp tham gia đánh bạc. Đối với bị cáo Chung có hành vi gọi điện thoại rủ L và D đến nhà để đánh bạc ăn thua bằng tiền, sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình cho các bị cáo đánh bạc, cung cấp công cụ, phương tiện đánh bạc là bộ cờ cá ngựa và số tiền 180.000 đồng tiền lẻ cho những người tham gia đánh bạc để hưởng lợi từ việc bán nước và thu tiền xâu, hành vi của C có dấu hiệu của tội “Gá bạc”, tuy nhiên do chỉ có một chiếu bạc, số người tham gia đánh bạc dưới 10 người, đồng thời C chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc” nên bị cáo C2 không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng bị cáo đồng phạm trong với các bị cáo khác về tội “Đánh bạc”. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 phạm tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số 28 ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhận thấy:
Các bị cáo là công dân đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, các bị cáo nhận thức được đánh bạc là tệ nạn xã hội, dấn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như phá tán tài sản, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác như giết người, cướp, trộm cắp tài sản.... việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn tham gia đánh bạc. Hành vi của các bị cáo đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và nếp sống văn minh của xã hội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này bị cáo Chung là người rủ rê và chuẩn bị công cụ, phương tiện dùng để đánh bạc, sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình cho các bị cáo khác đánh bạc nhằm để hưởng lợi từ việc bán nước và thu tiền xâu nên mức hình phạt dành cho bị cáo là cao nhất. Các bị cáo D, T5, L và T1 là những người trực tiếp tham gia đánh bạc, số tiền bị cáo D, L, T1 sử dụng để đánh bạc tương đương nhau, trong đó bị cáo L sử dụng 4.800.000 đồng, bị cáo D sử dụng 4.570.000 đồng, bị cáo T1 sử dụng 4.620.000 đồng nên phải chịu mức hình phạt cao thứ hai, bị cáo T5 sử dụng số tiền đánh bạc thấp nhất 903.000 đồng nên mức hình phạt dành cho bị cáo thấp hơn bị cáo D, L, T1.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Chung, D, T5 và T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo L, ngày 02/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt số tiền 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” bị cáo nộp tiền phạt vào ngày 15/12/2023, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D, T5, T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Chung tự nguyện ra đầu thú và có chị gái là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt:
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo L ngày 02/11/2018 đã bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt số tiền 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo Chung có nhân thân xấu. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo L, C ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo các bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo gây ra thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Các bị cáo D, T5, T1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Có khả năng tự cải tạo, việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm; thể hiện trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo được cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Đối chiếu các điều kiện áp dụng án treo được quy định tại Nghị quyết số 02/2018 ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022 ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 thì các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, cho các bị cáo được hưởng án treo và chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú trong thời gian thử thách là đủ nghiêm.
[7] Về hình phạt bổ sung: căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của pháp luật.
[8] Về biện pháp tư pháp:
Số tiền 15.073.000đ (mười lăm triệu không trăm bảy mươi ba ngàn) đồng đây là tiền dùng vào việc thực hiện tội phạm và tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Về xử lý vật chứng:
- 01 bộ cờ cá ngựa gồm 01 bàn cờ, 16 quân cờ cá ngựa, có 04 màu (đỏ, vàng, xanh dương, xanh lá cây), mỗi màu 04 quân cờ; 01 chén sứ màu trắng; 02 viên xúc xắc, mỗi viên có 06 mặt, mỗi mặt có có nút chấm tương ứng từ 01 đến 06 là công cụ dùng vào việc phạm tội xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh thu giữ của bị cáo Trương Văn C là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Các vật chứng còn lại đã giải quyết đúng theo quy định của pháp luật nên không xem xét.
[10] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và mức án đề nghị xử phạt bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố các bị cáo Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc L: 10 (mười) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án (nhưng được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 21/12/2023).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Xử phạt: Bị cáo Trương Văn C: 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án (nhưng được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 21/12/2023).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nghị quyết số: 02/2018 ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Nghị quyết số 01/2022 ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018;
Xử phạt:
- Bị cáo Hoàng Văn D: 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Bị cáo Lưu Uy T1: 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Bị cáo Huỳnh Văn T5: 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lưu Uy T1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Phạt tiền bị cáo Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 mỗi bị cáo 15.000.000đ (mười lăm triệu) đồng.
3. Về biện pháp tư pháp và vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 15.073.000đ (mười lăm triệu không trăm bảy mươi ba ngàn) đồng.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ cờ cá ngựa gồm 01 bàn cờ, 16 quân cờ cá ngựa, có 04 màu (đỏ, vàng, xanh dương, xanh lá cây), mỗi màu 04 quân cờ; 01 chén sứ màu trắng; 02 viên xúc xắc, mỗi viên có 06 mặt, mỗi mặt có có nút chấm tương ứng từ 01 đến 06.
- Tuyên tịch sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh.
(các vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/3/2024 và theo Biên lai thu tiền số 0009810 ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Văn C, Hoàng Văn D, Huỳnh Văn T5, Lê Quốc L, Lưu Uy T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Khuyên |
Bản án số 25/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 25/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRƯƠNG VĂN CH VÀ ĐP PHẠM TỘI ĐÁNH BẠC
