Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST

Ngày 21/8/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Nga và ông RCom Blan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim N; địa chỉ: Thôn G, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ; địa chỉ: Thôn L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Đỗ Thị Kim N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 14/7/2020 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng cuối năm 2022, bà N và ông Đ bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà N và ông Đ không phù về tính cách và không thống nhất khi bàn bạc về vấn đề kinh tế trong gia đình nên nhiều lần ông Đ mắng chửi, đánh đập bà N. Sau đó, bà N nhờ bố, mẹ khuyên can nhưng ông Đ không thay đổi. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên từ đầu năm 2024, bà N và ông Đ không còn chung sống với nhau, bà N đã đưa con là cháu Nguyễn Khải Đ1, sinh ngày 06/11/2021 về sinh sống cùng bố, mẹ ruột tại thôn G, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Còn ông Đ nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/01/2020. Hiện nay, bà N không còn tình cảm vợ chồng với ông Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: Bà Đỗ Thị Kim N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Khải Đ1, sinh ngày 06/11/2021, giao con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/01/2020 cho ông Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đỗ Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến; không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bà Đỗ Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ tiến hành đăng ký kết hôn vào ngày 14/7/2020 tại Uỷ ban nhân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn, bà N và ông Đ xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, bà N muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân nên được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Bị đơn cư trú tại: Thôn L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về ly hôn và nuôi con khi ly hôn nên quan hệ pháp luật có tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, việc vắng mặt không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn; tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Bà Đỗ Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ xác lập hôn nhân tự nguyện, đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, bà N và ông Đ không phù hợp về cách cư xử nên nhiều lần xảy ra mâu thuẫn. Từ đầu năm 2024 cho đến nay, bà N và ông Đ không còn chung sống cùng nhau và các bên đều không còn thể hiện sự quan tâm, thương yêu,chăm sóc lẫn nhau.

Bị đơn là ông Đ đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt nên biết được thông tin bà N khởi kiện ly hôn nhưng ông Đ không trình bày ý kiến phản đối, không tham gia tố tụng tại Tòa án để trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Cho thấy, các bên không còn quan tâm đến đời sống chung của vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N về việc ly hôn với ông Đ.

[4] Xét yêu cầu về nuôi con chung: Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con là Nguyễn Khải Đ1, sinh ngày 06/11/2021; giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/01/2020 cho ông Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Xét bà N và ông Đ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên và không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nên các bên phải có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng các con của mình. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về nuôi con sau khi ly hôn. Mặt khác, theo kết quả xác minh thì hiện nay ông Đ đang nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh K; bà N đang nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khải Đ1 nên cần tiếp tục duy trì sự ổn định về môi trường sống hiện tại cho các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N. Giao cháu Nguyễn Khải Đ1, sinh ngày 06/11/2021 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/01/2020 cho ông Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con, bà N không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Bà Đỗ Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Kim N.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khải Đ1, sinh ngày 06/11/2021 cho bà Đỗ Thị Kim N; giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/01/2020 cho ông Nguyễn Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Bà Đỗ Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Bà Đỗ Thị Kim N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009434 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Chi cục THADS huyện Ia Grai;
  • - UBND xã Ia Yok, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Đỗ Thị Kim N - Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger