|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:25/2024/HS-ST Ngày 21-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Công Kiều
2. Bà Trương Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:27/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Tô Chí B, sinh ngày 11 tháng 5 năm 2006 tại xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Tô Thị T, sinh năm 1980); Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất. Vợ con: Chưa; Tiền sự; Tiền án: không.
Tô Chí B bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/3/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Tô Thị T, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1980 tại xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Văn T1, sinh năm 1953 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1954; Gia đình có 08 người con, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Chồng: Không có; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền sự; Tiền án: không.
Tô Thị T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/3/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người bào chữa của bị cáo Tô Chí B: Bà Lương Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt
* Người bào chữa của bị cáo Tô Thị T: Bà Nguyễn Thị Nữ H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt
* Bị hại:
- Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1983. Có mặt
- Chị Đặng Thị H2, sinh năm 1982. Có mặt
Đều trú tại: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
- Chị Trịnh Thị H3, sinh năm 1980. Vắng mặt
Trú tại: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. - Chị Lê Thị L, sinh năm 1983. Vắng mặt
Trú tại: Thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. - Ông Tô Văn T1, sinh năm 1953. Vắng mặt
Trú tại: Thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. - Bà Bùi Thị H, sinh năm 1954. Vắng mặt
Trú tại: Thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1987. Vắng mặt
Trú tại: Thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tô Thị T sinh năm 1980, trú tại thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa và Tô Chí B sinh ngày 11 tháng 5 năm 2006 có quan hệ là mẹ con với nhau. Tháng 11 năm 2022, T có mua chiếc xe mô tô BKS: 36F1 - 451.14, nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu xanh đen để có phương tiện đi lại. Do B đi học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện H thuộc địa phận thị trấn H thường xuyên đi học xa nên B xin T được điều khiển xe mô tô BKS: 36F1-451.14 để đi học. Lúc đầu T không đồng ý nhưng do B tự lấy xe đi, nhiều lần nài nỉ nên T đã đồng ý giao xe cho B điều khiển đi học từ khi B học lớp 12. T có yêu cầu B nếu lấy xe đi phải được sự đồng ý của T.
Khoảng 19 giờ ngày 19/11/2023, B nhắn tin, gọi điện thoại qua ứng dụng zalo cho Tô Thị T xin được điều khiển xe mô tô BKS: 36F1 - 451.14 để đi chơi với bạn. Ban đầu T không đồng ý do thấy trời đã tối, nhưng B xin nhiều nên T đồng ý cho B điều khiển xe mô tô đi chơi và dặn B “đi chơi về sớm”. Sau đó, B điều khiển xe mô tô BKS: 36F1 - 451.14 một mình, không đội mũ bảo hiểm theo quy định đi chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, B điều khiển xe mô tô di chuyển theo hướng Cầu D đi ngã tư M với vận tốc khoảng 50-60km/ giờ. Khi đi đến Km14+800 thuộc địa phận thôn M, xã M, B nhìn thấy bên hướng di chuyển có 01 rạp đám cưới dựng sát lề đường bên phải lấn ra phía đường 40 cm, B liền điều khiển xe mô tô đi lấn sang phần đường bên trái. Do đi tốc độ nhanh nên khi phát hiện chị Đặng Thị H2, sinh năm 1982, trú thôn P, xã T, huyện H điều khiển xe mô tô BKS: 60B8-917.65, nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu vàng đen chở theo anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1983, trú cùng thôn
(là chồng chị H2) đang lưu thông ở phần đường bên phải Tỉnh lộ 526 theo hướng Đ-Tây (ngược chiều). Do khoảng cách giữa hai xe gần, B không kịp xử lý tay lái dẫn tới phần lốp trước của xe mô tô BKS: 36F1-451.14 va chạm với mặt trước trên bàn để chân trước bên trái xe mô tô BKS: 60B8-917.65. Ngay sau va chạm, xe mô tô BKS: 60B8-917.65 đổ nghiêng đè lên phần đầu xe mô tô BKS: 36F1-451.14, B bị văng khỏi xe nằm trên mặt đường, anh T2 bị văng về phía trước, chảy nhiều máu. Sau đó, người dân xung quanh hiện trường đã gọi điện báo Công an xã M đồng thời đưa B, anh T2 đi cấp cứu tại Phòng khám Đ2.
Sau khi nhận được tin báo từ Công an xã M, Đội CSGT Công an huyện H đã có mặt tại hiện trường tiến hành bảo vệ, tiến hành các hoạt động xác minh. Xét thấy vụ việc vượt quá thẩm quyền nên Đội CSGT Công an huyện H đã chuyển hồ sơ cùng phương tiện, giấy tờ liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện H để điều tra, xác minh theo quy định.
Cơ quan CSĐT Công an huyện H tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của anh Nguyễn Đức T2 ghi nhận: “Vùng trán bị lõm, có vết rách da không chảy máu tại vị trí đầu lông mày phải kích thước (3x2) cm, vùng má phải có vết bầm tím kích thước (3x0,5) cm, vùng má trái bầm tím kích thước (5x5) cm, sẹo liền vùng sống mũi dài 01 cm, bị hại báo cáo mắt phải sau khi bị tai nạn trên không nhìn thấy gì, đầu bị đau, hàm đau mở khó".
Kết quả khám nghiệm, xác định hiện trường như sau: Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ trên là Km 14+800 Tỉnh lộ 526, thuộc địa phận thôn M, xã M, huyện H, Thanh Hóa. Bề mặt đường được rải nhựa rộng 5m70 dành cho hai chiều đường xe đi chung, không có vạch sơn kẻ đường. Hướng Đ1 đi đê biển, hướng Tây đi cầu D, hướng Nam giáp khu dân cư, hướng Bắc giáp với Trường THCS M. Mép ngoài lề đường phía Nam được dựng biển báo 207a (báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên). Hướng bên phải (Cầu D đi đê biển) là phần đất lưu không rộng 6m20 có dựng rạp đám cưới kích thước rạp 12m20x6m20.
Thống nhất lấy mép đường phía bắc làm chuẩn; lấy cột mốc H8/14 được dựng bên lề đường hướng Nam làm mốc.
Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: (1) Đám màu đỏ (nghi máu) không rõ hình kích thước (0,55x0,4) m; (2) xe mô tô BKS: 60B8-917.65; (3) xe mô tô BKS: 36F1-451.14.
Cụ thể: (1) Đám màu đỏ (nghi máu) không rõ hình để lại trên mặt đường nằm dưới bánh xe phía trước của 02 xe mô tô có kích thước (0,55x0,4) m. Đo từ tâm vết vào điểm chuẩn là 1m31. (2) Mô tô BKS: 60B8-917.65 đỗ tĩnh nghiêng bên trái trên bề mặt đường nhựa, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông bắc. Trục trước và trục sau đo vào điểm chuẩn lần lượt là 0,8 m và 0,7 m. (3) Mô tô BKS: 36F1-451.14 bị hư hỏng đỗ tĩnh nghiêng bên phải trên mặt đường nhựa, đầu xe quay hướng Đông Bắc, nằm áp sát với phần cánh yếm bên trái của xe mô tô BKS: 60B8-917.65, đuôi xe quay hướng Tây nam, phần bánh xe trước của xe BKS: 36F1-451.14 nằm ngay phía trên khu vực đám màu đỏ nghi máu (1) trên mặt đường, trục trước bánh xe BKS: 36F1-451.14 cách điểm chuẩn là 1m05 và cách trục trước bánh xe BKS: 60B8-917.65 là 0,39 m. Trục sau bánh xe BKS: 36F1-451.14 cách điểm chuẩn 2m35 và cách cột rạp đám cưới phía Đông Bắc là 16m23.
Tại Kết luận giám định số 93/KLTTCT-PYTH ngày 07/02/2024 của Trung tâm P đối với tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đức T2, kết luận:
- Chấn thương sọ não gây tổn thương:
- Đụng dập nhu mô não vùng vỏ não và dưới vỏ, ưu thế bán cầu trái. Phù não lan tỏa, xóa các bế rãnh não; đã được điều trị; hiện tại còn hình ảnh cấu trúc giảm tỷ trọng nhu mô não thùy trán hai bên, ổ lớn bên trái kích thước (19x39) mm: 26% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 1; mục III;2).
- Vỡ phức tạp có mảnh rời xương trán hai bên lan vào trần hốc mắt hai bên; đã được điều trị; hiện tại còn hình ảnh vỡ xương trán trái lan lên xương đỉnh trái, kích thước 98 mm, điện não không có ổ tổn thương tương ứng: 21% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 1; mục I; 3.2).
- Tụ máu dưới màng cứng trán đỉnh bên phải; đã được điều trị; hiện tại không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 08% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 1; mục III; ghi chú mục III.6 đến III.7).
- Tụ máu dưới màng cứng trán đỉnh bên trái; đã được điều trị; hiện tại không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 08% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 1; mục III; ghi chú mục III.6 đến III.7).
- Xuất huyết dưới nhện các rãnh cuộn não; đã được điều trị; hiện tại còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 08% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 1; mục III; ghi chú mục III.8).
- Chấn thương phức hợp mũi-sàng (Vỡ và lún xương chính mũi, xương lá mía, vỡ cánh lớn xương bướm, vỡ thành ngoài xoang sàng phải): 36% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 12; mục II; 4.3).
- Chấn thương hàm mặt gây tổn thương:
- Vỡ cung tiếp xương gò má phải: 08% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 11; mục I;2).
- Vỡ phức tạp thành xoang trán: 07% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 12; mục II; 4.1).
- Vỡ thành trong ổ mắt phải: 05% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 10; mục XIII; 1).
- Vỡ trần ổ mắt trái: 05% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 10; mục XIII; 1).
- Chấn thương vùng hàm mặt gây tổn thương vỡ thành trong ổ mắt phải và vỡ trần ổ mắt trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng thị lực mắt phải ánh sáng (+), thị lực mắt trái bằng 10/10 tại thời điểm khám giám giám định pháp y về thương tích):
- 31% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 10; mục XV; bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do giảm thị lực vì tổn thương thực thể cơ quan thị giác).
- Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức đầu trong phía trên cung lông mày phải; kích thước sẹo nhỏ: 03% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 8; mục I; 1).
- Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức 1/3 trên tháp mũi; kích thước sẹo nhỏ: 03% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; bảng 1; chương 8; mục I; 1).
- Các chấn thương và tổn thương khác do chấn thương đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương: 0% (Không phần trăm).
Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đức T2 tại thời điểm giám định là: 85% (Tám mươi lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Kết luận giám định số 4688/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt lăn và má trái lốp trước tương ứng hàng chữ “M/C” mô tô BKS: 36F1-451.14 với mặt trước trên bàn để chân trước bên trái xe mô tô BKS: 60B8-917.65. Tại thời điểm va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều nhau. Không đủ cơ sở xác định vị trí va chạm trên đường của hai phương tiện. Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô BKS: 36F1-451.14 với xe mô tô BKS: 60B8-917.65 và anh Nguyễn Đức T2. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn”.
Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: “Tại thời điểm ngày 19/11/2023, phần hư hỏng của xe mô tô BKS: 60B8-917.65, nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu vàng đen, số máy JF63E1795807, số khung: 6302FZ802748 có giá trị 5.285.000đ (năm triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng)”.
Ngoài hậu quả làm anh T2 bị tổn thương 85% cơ thể, vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên còn làm B bị thương. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành trưng cầu giám định tổn thương cơ thể đối với Tô Chí B nhưng xét thấy thương tích nhẹ, lỗi là do mình gây ra nên Tô Chí B từ chối giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành dẫn giải nhưng không dẫn giải được, không xác định được tỉ lệ tổn thương cơ thể của Tô Chí B nên không xem xét, xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Đối với xe mô tô BKS: 60B8-917.65 chủ sở hữu là chị Đặng Thị H2, sinh năm 1982, trú thôn P, xã T, H, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại cho chị Đặng Thị H2.
Đối với xe mô tô BKS: 36F1-451.14 cùng giấy tờ xe liên quan hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
01 đĩa DVD đã được niêm phong chuyển kèm hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Tô Chí B và Tô Thị T chưa bồi thường khoản nào cho anh Nguyễn Đức T2, anh T2 có đơn yêu cầu các bị can bồi thường các khoản gồm tiền chi phí đi lại, điều trị, tiền tổn thất tinh thần, tiền công người chăm sóc, tiền tổn thất ngày công lao động, sửa chữa phương tiện bị hư hỏng do tai nạn...với tổng số tiền là 147.950.000đ. Trong giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tô Chí B và Tô Thị T giao nộp Biên lai thu tiền bồi thường, khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc số tiền 30.000.000 đồng (Tô Chí Bách nộp 20.000.000 đồng, Tô Thị T nộp 10.000.000 đồng).
Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 117.950.000 đồng và chi phí điều trị di chứng thị lực mắt phải sau này. Bị hại Tô Chí B và Tô Thị T chấp nhận bồi thường các khoản mà bị hại yêu cầu phải bồi thường. Đối với yêu cầu bồi thường tiền điều trị di chứng thị lực mắt phải do tai nạn đề nghị xem xét sau.
Tại cáo trạng số 28/CT-VKSHL ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Tô Chí B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Tô Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa truy tố về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự;
Xét tính chất, mức độ, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 90; khoản 1, 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 65 BLHS đối với Tô Chí B, xử phạt bị cáo Tô Chí B từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Tô Chí B cho UBND xã N, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tô Thị T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
- Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục.
- Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Các bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên không phạt bổ sung đối với Tô Chí B; không phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập đối với Tô Thị T.
- Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584; 585; 586; 587; 589 BLDS; Buộc bị cáo Tô Thị T, Tô Chí B phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền còn phải bồi thường là 117.950.000 đồng. Đối với yêu cầu điều trị di chứng mắt phải đề nghị dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Xử lý vật chứng: Trả lại xe mô tô BKS: 36F1-451.14 cùng giấy tờ xe liên quan hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc cho chị Tô Thị T.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Tô Chí B trình bày quan điểm: Không tranh luận về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, độ tuổi khi phạm tội để áp dụng điều 54 của BLHS cho bị cáo mức án dưới mức thấp nhất khung hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Tô Thị T trình bày quan điểm: Không tranh luận về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo mức án thấp nhất khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Khi xét xử bị cáo Tô Chí B đã đủ 18 tuổi nhưng thuộc đối tượng hộ cận nghèo và đề nghị bà Lương Thanh V tiếp tục bào chữa nên bà V tiếp tục bào chữa cho bị cáo Tô Chí B.
[2] Lời khai của bị cáo Tô Chí B, bị cáo Tô Thị T tại phiên tòa khai nhận phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 19/11/2023, tại khu vực Km14+800 tỉnh lộ 526 thuộc địa phận thôn M, xã M, Tô Chí B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 36F1-451.14 màu xanh đen (dung tích xi lanh 124 cm³) đã va chạm với xe mô tô Honda Ablade biển kiểm soát 60B8-917.65, do chị Đặng Thị H2 điều khiển chở theo anh Nguyễn Đức T2 (là chồng chị H2) đang lưu thông ở phần đường bên phải Tỉnh lộ 526 theo hướng Đ-Tây (ngược chiều), làm anh T2 bị tổn thương cơ thể 85% (Tám mươi lăm phần trăm).
Khi tham gia giao thông gây tai nạn, bị cáo Tô Chí B chưa đủ 18 tuổi, chưa được cấp Giấy phép lái xe theo quy định nhưng đã điều khiển xe mô tô có dung tíchxi lanh 109,5 cm³ tham gia giao thông. Lại không chú ý quan sát phần đường đi phía trước, đi lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều gây hậu quả tổn hại 85% sức khỏe cho người khác là vi phạm khoản 9, 19, 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 60 Luật giao thông đường bộ. Hành vi nêu trên của Tô Chí B đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 36F1-451.14 màu xanh đen (có dung tíchxi lanh 109,5 cm³) là của Tô Thị T mua tháng 11 năm 2022 để có phương tiện đi lại. T biết rõ B chưa đủ tuổi theo quy định, không có giấy phép lái xe mô tô nhưng T vẫn giao xe cho Tô Chí B điều khiển tham gia giao thông, hậu quả là B đã gây tai nạn và làm thiệt hại 85% sức khỏe cho người khác. Hành vi nêu trên của Tô Thị T đã phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Tô Chí B, Tô Thị T ra trước Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc để xét xử về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội. Nó trực tiếp xâm phạm đến những quy tắc, trật tự công cộng do Nhà nước quy định. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân, một trong các quyền được pháp luật bảo vệ, đồng thời nó còn gây mất trật tự trị an, làm ảnh hưởng đến cuộc sống và sự hoạt động bình thường của gia đình và xã hội.Vì vậy pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
[4] Đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Tô Chí B và Tô Thị T đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại” và tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Tô Thị T còn hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Tô Chí B khi thực hiện hành vi phạm tội đang dưới 18 tuổi nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Phạm tội do vô ý, có nơi cư trú ổn định, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Không áp dụng Điều 54 của BLHS cho bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng cho bị cáo mức án dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát và được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Đối với Tô Thị T do trình độ nhận học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế. Có nơi cư trú ổn định, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy giảm nhẹ hình phạt cho bọi cáo và áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Các bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên không phạt bổ sung đối với Tô Chí B; không phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập đối với Tô Thị T.
[5] Vật chứng của vụ án là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 36F1 - 451.14, nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu xanh đen là phương tiện duy nhất của gia đình nên trả lại cho Tô Thị T cùng giấy tờ liên quan.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu người gây tai nạn phải bồi thường chi phí đi lại, điều trị, tiền tổn thất tinh thần, tiền công người chăm sóc, tiền tổn thất ngày công lao động, sửa chữa phương tiện bị hư hỏng do tai nạn...với tổng số tiền là 147.950.000đ. Đã bồi thường 30.000.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 117.950.000 đồng. Đối với yêu cầu điều trị di chứng mắt phải do tai nạn nhưng chưa biết số tiền cụ thể nên bị hại được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[7] Các vấn đề khác: Đối với xe mô tô BKS: 60B8-917.65 chủ sở hữu là chị Đặng Thị H2, sinh năm 1982, trú thôn P, xã T, H, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại cho chị Đặng Thị H2 là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo Tô Chí B, Tô Thị T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 90; khoản 1, 6 Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 65 BLHS đối với Tô Chí B.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với Tô Thị T.
* Tuyên bố: Bị cáo Tô Chị B1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Tô Thị T phạm tội “giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Tô Chí B 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Tô Chí B cho UBND xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
- Xử phạt bị cáo Tô Thị T 6 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Tô Thị T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án, Tô Thị T phải thực hiện nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập: Không.
* Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 586, 587, 589, 590, 601 Bộ luật Dân sự. Anh Nguyễn Đức T2, chị Đặng Thị H2 được nhận số tiền 30.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001623 và Biên lai số 0001624 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. Bị cáo Tô Chí B và Tô Thị T còn phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Đức T3 chị Đặng Thị H2 số tiền là 117.950.000 đồng (một trăm mười bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án thì hàng tháng bị cáo Tô Chí B, Tô Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS trả lại xe mô tô BKS: 36F1-451.14 cùng giấy tờ xe liên quan (đăng ký xe) cho Tô Thị T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
* Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Tô Chí B và Tô Thị T được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7avà 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Sang |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 21/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA về hình sự về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ
