|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-PT |
Ngày: 21/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức;
Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1979, tại Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn S, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 06/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn M, sinh năm 1951 và bà Huỳnh Thị Mỹ H (chết); Có vợ là Trương Thị Mỹ N, sinh năm 1984 và 02 con: sinh năm 2003 và sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/12/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Trương Quốc P, sinh năm 1980; Địa chỉ: A L, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Trần Minh T1, sinh năm 1981; địa chỉ: 0 T, Phường F, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Mỹ N, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn S, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 15/3/2023, Trương Quốc P đến Q thuộc Phường G, thành phố T lấy cây dù che nắng để giữ xe nhưng không thấy. P thấy Lê T2 cùng một số người đang ngồi uống nước. P cho rằng T2 lấy giấu cây dù, nên P đến nói chuyện với T2, thì giữa P và T2 xảy ra mâu thuẫn, P dùng tay tát một cái vào cổ T2, nên T2 bỏ chạy rồi gọi điện thoại cho cha là Lê Văn T nói T2 bị người khác đánh.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Văn T điều khiển xe mô tô biển số 78L2-1085 đi từ nhà trọ ở Phường I, thành phố T đến Quảng trường 1/4, T hỏi T2 ai đánh thì Tín chỉ tay về phía P. Thấy P khom người lấy cây gỗ, nên T2 lao vào ôm vật P ngã xuống, lúc này ông Trần Minh T1 đang đứng gần chỗ P và T2. Thấy vậy, T điều khiển xe môtô biển số 78L2-1085 chạy thẳng đến tông trúng chân phải ông T1 gây thương tích. Tiếp đó, T chạy đến giật lấy cây gỗ trên tay P, rồi cầm cây gỗ đánh 03 cái vào vùng trán, vùng đầu P gây thương tích. Sau đó, T ném cây gỗ tại hiện trường rồi bỏ đi, còn P và T1 được gia đình đưa đến Bệnh viện điều trị thương tích. Các ông Trần Minh T1 và Trương Quốc P có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 148/2023/KLTTCT ngày 13/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận ông Trương Quốc P bị thương tích 07%, vật tác động là vật tày. Kết luận giám định pháp y về thương tích số 152/2023/KLTTCT ngày 12/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận ông Trần Minh T1 bị thương tích 06%, vật tác động là vật tày.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm a, i, Khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Lê Văn T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/3/2024, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 11/3/2024, bị hại Trương Quốc P, Trần Minh T1 có đơn bãi nại rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với các bị cáo Lê Văn T (Đơn được Công an phường nơi Trương Quốc P, Trần Minh T1 cư trú xác nhận).
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi gây thương tích cho bị hại như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên; bị cáo thấy có tội mong bị hại tha thứ và pháp luật khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo. Các bị hại Trương Quốc P, Trần Minh T1 rút đơn bãi nại ngày 11/3/2024 và tiếp tục yêu cầu xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, i, Khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T - 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 15/3/2023, tại Phường G, thành phố T, bị cáo Lê Văn T đã có hành vi dùng xe mô tô tông vào chân phải của bị hại Trần Minh T1 gây thương tích tỷ lệ 6%, dùng cây gỗ đánh bị hại Trương Quốc P gây thương tích tỷ lệ 07%. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Lê Văn T 01 năm 09 tháng tù. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/3/2024 bị cáo có đơn kháng cáo xin hưởng án treo, các bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại Trần Minh T1, Trương Quốc P thay đổi ý kiến, đề nghị tiếp tục xét xử đối với bị cáo Lê Văn T vì bị cáo chưa bồi thường đủ cho các bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy: ngày 11/3/2024, các bị hại có đơn bãi nại rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo Lê Văn T là hoàn toàn tự nguyện, không ai cưỡng bức, ép buộc nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của các bị hại cũng như quan điểm của Kiểm sát viên. Căn cứ Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự – Hủy bản án sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên và Đình chỉ vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đối với bị cáo Lê Văn T.
[3] Lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu; không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, nên bị cáo Lê Văn T không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Trương Quốc P, Trần Minh T1 có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khi có yêu cầu.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 cây gỗ dài 40cm, đường kính 03cm; 01 cây gỗ dài 42cm, đường kính 04cm.
- - Trả lại cho bà Trương Thị Mỹ N: 01 xe mô tô biển số 78L2-1085.
(Theo nội dung biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/11/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà).
[6] Do quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án nên không xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn T.
[7] Bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên tiến hành lập thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn T về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên và Đình chỉ vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đối với bị cáo Lê Văn T bị cấp sơ thẩm truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu; không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, nên bị cáo Lê Văn T không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Trương Quốc P, Trần Minh T1 có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khi có yêu cầu.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 cây gỗ dài 40cm, đường kính 03cm; 01 cây gỗ dài 42cm, đường kính 04cm.
- - Trả lại cho bà Trương Thị Mỹ N: 01 xe mô tô biển số 78L2-1085.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/11/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà).
- Về án phí: Bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên tiến hành lập thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn T về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huy Đức |
Bản án số 25/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 25/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
