|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HSST Ngày 11/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang
Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Thuỷ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nông Văn C; Sinh ngày 01/01/1962, tại xã K, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã K, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: 4/12; Bị cáo là Đảng viên Đ1 sinh hoạt tại chi bộ bản Noong Quang, xã K, tỉnh Lai Châu, đã được đình chỉ sinh hoạt đảng từ ngày 12/8/2025; Con ông Nông Văn H (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Vừ Thị D (không xác định được năm sinh, đã chết); Bị cáo có vợ thứ nhất là Hờ Thị D1 (không xác định được năm sinh, đã chết), vợ thứ hai Sùng Thị P, sinh năm 1978 và có 14 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09/8/2025 hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc Trại giam Công an tỉnh L. (Có mặt).
- Họ và tên: Lục Văn P1; Sinh ngày 08/9/1992, tại xã K, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản M, xã K, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Lục Văn P2, sinh năm 1959 và bà Lường Thị P3, sinh năm 1961; Bị cáo sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với chị Lò Thị Đ, sinh năm 1998 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/6/2025, tạm giam từ ngày 21/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc Trại giam Công an tỉnh L. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Lục Văn P1 khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 18/6/2025, Lục Văn P1 mượn xe mô tô của người đàn ông lạ mặt đang ở bản M, xã K, tỉnh Lai Châu rồi điều khiển từ nhà Lục Văn P1 tại bản Mở, xã K, tỉnh Lai Châu lên bản N, xã K, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Trên đường đi, Lục Văn P1 gặp Hà Văn T (sinh năm 1989, cư trú tại bản Mở, xã K, tỉnh Lai Châu) bị thủng xăm xe nên Lục Văn P1 cho Hà Văn T đi nhờ xe cùng lên bản Noong Quang, xã K. Đến bản N, Lục Văn P1 vào nhà anh Nông Văn P4, sinh năm 1984 ăn cơm, còn Hà Văn T đi đâu Lục Văn P1 không rõ. Sau khi ăn cơm xong, Lục Văn P1 đi ra ngoài sân nhà anh P4 thì gặp lại Hà Văn T. Tại đây, Hà Văn T nói với Lục Văn P1 là T vừa mua được 01 gói Heroine của Nông Văn C (nhà C ở gần nhà anh P4). Sau khi nghe Hà Văn T nói vậy, Lục Văn P1 đi sang nhà Nông Văn Chỏ gặp C hỏi mua Heroine, Lục Văn P1 đưa cho Nông Văn C số tiền 300.000 đồng (gồm một tờ mệnh giá 200.000 đồng và một tờ mệnh giá 100.000 đồng). Nông Văn C nhận tiền từ Lục Văn P1 rồi đi vào trong buồng ngủ của gia đình lấy ra một gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu trắng) bán cho Lục Văn P1. Mua được H1, Lục Văn P1 điều khiển xe mô tô chở Hà Văn T quay về, khi đến đoạn đường chỗ Hà Văn T bị thủng xăm xe thì T ở lại để sửa xe. Lục Văn P1 tiếp tục điều khiển xe đi về, trên đường về Lục Văn P1 rẽ vào ven đường lấy gói Heroine mua được ra, cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức chích. Số Heroine còn lại, Lục Văn P1 chia làm 02 gói nhỏ gói lại bằng mảnh nilon màu hồng và gói chung lại bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ. Khi về đến bản Mở xã K, Lục Văn P1 trả xe mô tô cho người đàn ông lạ mặt rồi cầm 02 gói Heroine trên tay đi bộ đến cổng bản Mở xã K thì gặp lực lượng Công an xã K đang làm nhiệm vụ. Do sợ hành vi tàng trữ Heroine của mình bị phát hiện, Lục Văn P1 đã thả 02 gói Heroine đang cầm trong lòng bàn tay trái xuống đất thì bị Công an xã K phát hiện, bắt quả tang hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ của Lục Văn P1 gồm 02 gói Lục Văn P1 khai nhận là Heroine.
Tại Kết luận số 523/KL-KTHS ngày 20/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lục Văn P1 có tổng khối lượng 0,41 gam; là ma túy, loại Heroine (H) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 20/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã khởi tố vụ án, khởi tố Lục Văn P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ lời khai của Lục Văn P1, ngày 09/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra lệnh khám xét chỗ ở đối với Nông Văn C. Quá trình khám xét, thu giữ của Nông Văn C 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, bên trong chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen, Nông Văn C khai nhận là Thuốc phiện.
Tại cơ quan điều tra, Nông Văn C khai nhận như sau:
Buổi chiều ngày 16/6/2025, tại bản N, xã K, tỉnh Lai Châu, Nông Văn C mua 01 gói Heroine từ một người không quen biết, mục đích để sử dụng và bán. Sau khi mua được H1, Nông Văn C mang về nhà, cất giấu ở đầu giường trong buồng ngủ của gia đình không cho ai biết. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/6/2025, khi Nông Văn C đang ở nhà mình thì có Lục Văn P1 đến hỏi mua Heroine. Nông Văn C đã bán cho Lục Văn P1 gói Heroine mua được lấy 300.000 đồng. Đối với gói Thuốc phiện bị thu giữ, Nông Văn C khai nhận mua của 01 người đàn ông không quen biết từ năm 2024. Mục đích mua thuốc phiện của Nông Văn C là để dùng làm thuốc chữa bệnh cho trâu, bò của gia đình.
Trên cơ sở kết quả điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra quyết định khởi tố bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố và ra lệnh bắt tạm giam Nông Văn C về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 683/KL-KTHS ngày 13/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ của Nông Văn C có tổng khối lượng 0,56 gam, là ma túy, loại Thuốc phiện.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,41 gam Heroine thu giữ của Lục Văn P1, 0,56 gam Thuốc phiện thu giữ của Nông Văn C đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại gồm: 02 mảnh nilon màu hồng, một mảnh giấy trắng có dòng kẻ, 01 mảnh nilon màu xanh, 02 vỏ bì niêm phong ban đầu hiện đang được bảo quản, quản lý tại kho vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu.
Cáo trạng số 22/CT-VKSKV2 ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu truy tố bị cáo Nông Văn C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Truy tố bị cáo Lục Văn P1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nông Văn C 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nông Văn C.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lục Văn P1 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lục Văn P1.
- Miễn cho các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 án phí hình sự sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu hồng, một mảnh giấy trắng có dòng kẻ, 01 mảnh nilon màu xanh, 02 vỏ bì niêm phong ban đầu. Truy thu của bị cáo Nông Văn C số tiền 300.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Chiều ngày 16/6/2025, tại bản N, xã K, tỉnh Lai Châu, Nông Văn C đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 200.000 đồng từ một người không quen biết, mục đích để sử dụng và bán. Mua được H1, Nông Văn C mang về nhà cất giấu ở đầu giường trong buồng ngủ của gia đình, không cho ai biết. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/6/2025, tại bản N, xã K, tỉnh Lai Châu, Nông Văn C đã bán trái phép cho Lục Văn P1 01 gói Heroine lấy 300.000 đồng. Mua được H1, Lục Văn P1 đem về nhà tại bản Mở, xã K, tỉnh Lai Châu chia thành 02 gói nhỏ, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã K phát hiện, bắt quả tang hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ của Lục Văn P1 là 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,41 gam.
Các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo Nông Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Hành vi nêu trên của Lục Văn P1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 sinh ra lớn lên tại xã K, tỉnh Lai Châu. Các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nông Văn C là Đảng viên Đ1 sinh hoạt tại chi bộ bản Noong Quang, xã K, tỉnh Lai Châu, đã được đình chỉ sinh hoạt đảng từ ngày 12/8/2025. Các bị cáo nhận thức được các hành vi liên quan đến ma tuý đều bị pháp luật nghiêm cấm, đã được tuyên truyền nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nông Văn C có bố đẻ là Nông Văn H được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ đẻ là Vừ Thị D2 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, bản thân các bị cáo nghề nghiệp nông dân, thu nhập không ổn định, các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn C; khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lục Văn P1.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 0,41 gam Heroine thu giữ của Lục Văn P1, 0,56 gam Thuốc phiện thu giữ của Nông Văn C, Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết. Đối với 02 mảnh nilon màu hồng, một mảnh giấy trắng có dòng kẻ, 01 mảnh nilon màu xanh, 02 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000 đồng do bị cáo Nông Văn C phạm tội mà có cần truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo Nông Văn C thuộc hộ cận nghèo, bị cáo Nông Văn C là người cao tuổi, tại phiên tòa các bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Theo quy định tại Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025 thì khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung có khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung có khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, thời điểm các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/7/2025 do đó cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 không áp dụng quy định của Luật số 86 đối với phần tăng hình phạt không có lợi cho người phạm tội là Nông Văn C, Lục Văn P1.
Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[10] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc Heroine và Thuốc phiện, Nông Văn C khai mua những người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ 0,56 gam Thuốc phiện nhằm mục đích để làm thuốc chữa bệnh cho trâu, bò của Nông Văn C. Quá trình điều tra xác định khối lượng Thuốc phiện dưới mức tối thiểu điều luật quy định, bản thân Nông Văn C chưa có tiền án, tiền sự về các tội phạm liên quan đến ma túy nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự Nông Văn C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Công an xã K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nông Văn C là đúng quy định.
Đối với người đàn ông cho Lục Văn P1 mượn xe mô tô để đi mua Heroine, Lục Văn P1 khai không biết nhân thân lai lịch của người này nên không có căn cứ xác minh làm rõ vai trò đồng phạm để xử lý.
Theo lời khai của Lục Văn P1 thì có Hà Văn T, sinh năm 1989, cư trú tại bản Mở, xã K, tỉnh Lai Châu người đã giới thiệu Nông Văn C để cho Lục Văn P1 hỏi mua Heroine của Nông Văn C. Quá trình điều tra Nông Văn C và Hà Văn T đều không thừa nhận việc mua bán Heroine như lời tố giác của Lục Văn P1 nên chưa đủ căn cứ để xử lý Nông Văn C về lần bán Heroine cho Hà Văn T.
Đối với việc Lục Văn P1 đã dùng xe mô tô chở Hà Văn T đi từ bản Noong Quang, xã K về bản M, xã K. Trên đường đi Lục Văn P1 và Hà Văn T không trao đổi với nhau về việc mình tàng trữ Heroine. Quá trình điều tra, không thu giữ được Heroine của Hà Văn T nên không có căn cứ để xử lý đối với với Hà Văn T.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nông Văn C;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lục Văn P1;
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với cả hai bị cáo.
-
Về tội danh:
- - Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Tuyên bố bị cáo Lục Văn P1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nông Văn C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2025.
- - Xử phạt bị cáo Lục Văn P1 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2025.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một phong bì bên trong có 02 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ và chữ viết, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Lai Châu).
Truy thu của bị cáo Nông Văn C số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho các bị cáo Nông Văn C, Lục Văn P1 mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |
8
9
Bản án số 25/2025/HSST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Nông Văn C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2025. - Xử phạt bị cáo Lục Văn P 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2025.
