|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Bản án số: 25/2025/KDTM Ngày 12 tháng 6 năm 2025 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Phong
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Vừng
Bà Nguyễn Thị Thắm
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thế Cường - Thẩm tra viên TAND huyện Lương Tài
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tá Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Lương Tài mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 36/2024/TLST- DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc " Tranh chấp Hợp đồng tín dụng". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXX - DS ngày 29 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐ - ST ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B L, Quận B, TP .;
Người được ủy quyền lại: Ông Trần Văn B - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L (Theo giấy ủy quyền ngày 04/11/2024)(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: 1. Ông Phan Văn H, sinh năm 1970. Vắng mặt tại phiên tòa
2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1972. Vắng mặt tại phiên tòa
Cùng có nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Trần Văn B trình bày:
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng vay số 2608-LAV-202200889 ngày 01/7/2022 và các giấy nhận nợ giữa Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L (gọi tắt là Ngân hàng); Nội dung hợp đồng: Ngân hàng cho ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V vay hạn mức cấp tín dụng là 1.400.000.000 đồng, Hiện tại còn dư nợ 1.120.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Kỳ hạn trả nợ gốc, trả lãi theo hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, mục đích vay vốn: Sửa chữa nhà ở và mua sắm vật dụng sinh hoạt.
* Để đảm bảo cho khoản vay trên ông H, bà V đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản như sau:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 117, tờ bản đồ số 24, diện tích đất: 314,0 m², diện tích nhà: 104,0 m² địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 481374 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS 06277, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 2608-LCL-202200711 ngày 07 tháng 7 năm 2022 ký giữa Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L, tỉnh Bắc Ninh - P với ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V.
- + Quyền sử dụng đất tại: Thửa đất số: 156, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 132.0 m², địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 094222 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/4/2017, số vào sổ cấp GCN: CS 03427/TT98, mang tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2608-LCL-202200699 ngày 01 tháng 7 năm 2022 ký giữa Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L, tỉnh Bắc Ninh - P với ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V.
Quá trình thực hiện hợp đồng, do ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V đã vi phạm điều khoản trong hợp đồng về nghĩa vụ trả nợ; Do vậy Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Lương Tài; Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã trả Ngân hàng được 850.000.000đ nợ gốc nên phía Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và Ngân hàng đã giải chấp thửa đất số: 156, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 132.0 m², địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 094222 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/4/2017, số vào sổ cấp GCN: CS 03427/TT98, mang tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V.
Nay phía Ngân hàng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
- Buộc ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải trả số tiền vay tạm tính đến ngày 12/6/2025 với tổng số tiền là 436.750.684 đồng. ( Bằng chữ: Bốn trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn, sáu trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 270.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 157.383.560 đồng; Lãi quá hạn là 9.367.124 đồng.
- Trong trường hợp ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V không trả đủ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền để nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp với Ngân hàng. Cụ thể tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 117, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 314,0 m², diện tích nhà: 104,0 m² địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 481374 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS 06277, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V, cùng toàn bộ tài sản trên đất đã thế chấp.
- Ngoài ra, yêu cầu ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 13/6/2025 đến thời điểm ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.
*Phía bị đơn là ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V trình bày: Ông bà và Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L, tỉnh Bắc Ninh - P có ký các hợp đồng tín dụng vay số 2608-LAV-202200889 ngày 01/7/2022 và các giấy nhận nợ vay tiền và các hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho tổng số tiền đã vay là 1.400.000.000 đồng, Hiện tại còn dư nợ 1.120.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. kỳ hạn trả nợ gốc, trả lãi theo hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, mục đích vay vốn: Sửa chữa nhà ở và mua sắm vật dụng sinh hoạt.
Để đảm bảo tiền vay thì ông bà có thế chấp tài sản cho Ngân hàng như sau:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 117, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 314,0 m², diện tích nhà: 104,0 m² địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 481374 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS 06277, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V.
- + Quyền sử dụng đất tại: Thửa đất số: 156, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 132.0 m², địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 094222 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/4/2017, số vào sổ cấp GCN: CS 03427/TT98, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V.
Nay ông bà xác định còn nợ Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L, tỉnh Bắc Ninh - PGD Kênh Vàng tạm tính đến ngày 12/6/2025 với tổng số tiền là 436.750.684 đồng. ( Bằng chữ: Bốn trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn, sáu trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 270.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 157.383.560 đồng; Lãi quá hạn là 9.367.124 đồng.
Quan điểm của ông bà là do hoàn cảnh kinh tế đang gặp khó khăn nên xin được trả nợ dần số nợ trên cho Ngân hàng. Trước hết xin trả hết số nợ gốc trước, còn tiền lãi xin Ngân hàng miễn.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn: Xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và xuất trình bảng kê tính lãi phát sinh đến hết ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12 tháng 6 năm 2025) là 436.750.684 đồng. ( Bằng chữ: Bốn trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 270.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 157.383.560 đồng; Lãi quá hạn là 9.367.124 đồng và tiếp tục phải trả tiền lãi như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế kể từ ngày 13 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong. Trong trường hợp ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V không trả đủ nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, bán tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 117, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 314,0 m², diện tích nhà: 104,0 m² địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh đã thế chấp với Ngân hàng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về điều luật áp dụng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 30; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; Điều 217; khoản 2, Điều 227; khoản 1, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 288, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 100; khoản 2, Điều 103 và Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 của Thống đốc ngân hàng N1; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- -Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng A về số tiền 850.000.000 đồng và yêu cầu phát mại tài sản là thửa Thửa đất số: 156, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 132.0 m², địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 094222 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/4/2017, số vào sổ cấp GCN: CS 03427/TT98, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V để trả tiền cho ngân hàng.
- Chấp nhận phần yêu cầu còn lại của ngân hàng A: Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị V phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/6/20225 là: 436.750.684 đồng. ( Bằng chữ: Bốn trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 270.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 157.383.560 đồng; Lãi quá hạn là 9.367.124 đồng và tiếp tục phải trả tiền lãi như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế, kể từ ngày 13 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, bán tài sản đã thế chấp với Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2608-LCL-202200711 ngày 07 tháng 7 năm 2022 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật: Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: thửa đất số: 117, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 314,0 m², diện tích nhà: 104,0 m² địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 481374 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS 06277, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V, cùng toàn bộ tài sản trên đất đã thế chấp cho Ngân hàng.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] . Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn là ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V có nơi cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài được quy định tại Điều 30, 35 và khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] .Về tố tụng: Ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên toà nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án trên là phù hợp quy định Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] . Về nội dung tranh chấp: Xét hợp đồng tín dụng số số 2608-LAV-202200889 ngày 01/7/2022 và giấy cam kết. Theo đó, Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L cho ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V vay hạn mức cấp tín dụng là 1.400.000.000 đồng, dư nợ 1.120.000.000 đồng. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì ông H, bà V đã trả nợ Ngân hàng được 850.000.000đ nên Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện và chỉ đề nghị Tòa án buộc ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải trả số tiền còn nợ là 436.750.684 đồng. ( Bằng chữ: Bốn trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 270.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 157.383.560 đồng; Lãi quá hạn là 9.367.124 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng trên được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật; Ông H, bà V cũng thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện là đúng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2, Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây được xem là chứng cứ không phải chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Hợp đồng tín dụng trên được coi là hợp pháp và đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải có nghĩa vụ thực hiện.
Do ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo HĐTD đã ký. Nên Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải trả toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi suất phát sinh trên số tiền nợ gốc theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký cho đến khi trả hết nợ là phù hợp với quy định tại các Điều 288, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 100; khoản 2, Điều 103 và Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024
[4] . Liên quan đến Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2608-LCL-202200711 ngày 07 tháng 7 năm 2022 dùng các tài sản là thửa đất số: 117, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 314,0 m², diện tích nhà: 104,0 m² địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 481374 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS 06277, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V, cùng toàn bộ tài sản trên đất để đảm bảo cho khoản vay trên thì thấy Hợp đồng thế chấp và giấy cam kết trên đã ký thể hiện sự tự nguyện, không trái pháp luật đã được công chứng và giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 4, 9, 10, 11, 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về giao dịch bảo đảm, do vậy các giao dịch này là hợp pháp và có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên tham gia giao kết. Do đó, trường hợp ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, bán tài sản đã thế chấp với Ngân hàng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30, điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; Điều 217; khoản 2, Điều 227; khoản 1, Điều 228; Điều 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 288, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 100; khoản 2, Điều 103 và Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 của Thống đốc ngân hàng N1; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng A về số tiền 850.000.000 đồng và yêu cầu phát mại tài sản là thửa Thửa đất số: 156, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 132.0 m², địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 094222 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/4/2017, số vào sổ cấp GCN: CS 03427/TT98, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V để trả tiền cho ngân hàng.
- Chấp nhận phần yêu cầu còn lại của ngân hàng A: Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị V phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/6/20225 là: 436.750.684 đồng. ( Bằng chữ: Bốn trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 270.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 157.383.560 đồng; Lãi quá hạn là 9.367.124 đồng và tiếp tục phải trả tiền lãi như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế, kể từ ngày 13 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong.
- Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, bán tài sản đã thế chấp với Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2608-LCL-202200711 ngày 07 tháng 7 năm 2022 và giấy cam kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: thửa đất số: 117, tờ bản đồ số: 24, diện tích đất: 314,0 m², diện tích nhà: 104,0 m² địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 481374 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/12/2020, số vào sổ cấp GCN: CS 06277, đứng tên ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V, cùng toàn bộ tài sản trên đất đã thế chấp cho Ngân hàng.
Trường hợp toàn bộ khối tài sản thế chấp sau khi xử lý phát mại mà không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[4] Về chi phí thẩm định tại chỗ: Ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải trả Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà trước đó Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L đã nộp tại Tòa án.
[5] Về án phí: Ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị V phải chịu 21.837.534 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 23.780.000đ theo biên lai thu số 0001227 ngày 04/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
[6] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Phong |
Bản án số 25/2025/KDTM ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2025/KDTM
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Agribank - Phan Văn Huy
