TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày: 12-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng Mạnh.
Ông Phạm Văn Chữ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10, 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/HSST-QĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Phùng Thị M, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1967; Tên gọi khác: Không; Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thị xã C, tỉnh Bắc Giang); Nơi thường trú: Tổ dân phố C, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn Đ (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ1 (đã chết); Có chồng là Bùi Văn C (đã chết) và 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến 25/12/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại; Có mặt.
Họ và tên: Dương Thị L, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1977; Tên gọi khác: Không; Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thị xã C, tỉnh Bắc Giang); Nơi thường trú: Tổ dân phố K, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn S và bà Nguyễn Thị T; Có chồng là Hà Long T1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại; Có mặt.
Họ và tên: Bùi Thị H, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1998; Tên gọi khác: Không; Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang (Nay là thị xã C, tỉnh Bắc Giang); Nơi thường trú: Tổ dân phố C, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn C (đã chết) và bà Phùng Thị M; Có chồng là Ong Thế Đ2 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại; Có mặt.
Họ và tên: Đào Thị L1, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1979; Tên gọi khác: Không; Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Có chồng là Vũ Văn T2 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại; Có mặt.
Họ và tên: Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1962; Tên gọi khác: Không; Quê quán: huyện K, tỉnh Hải Dương; Nơi thường trú: Tổ dân phố P, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc Đ3 và bà Phạm Thị S1; Có vợ là Nguyễn Thị T3 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến 25/12/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại; Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Luân Văn T4, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng: Ông Hoàng Văn S2, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 19/12/2024, L2 Văn Thư đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức ghi số lô, số đề với Phùng Thị M với số tiền 1.150.000 đồng. Quá trình đầu thú, L2 Văn Thư giao nộp 01 mảnh giấy (cáp) một mặt ghi chữ và số lô (89, 98), một mặt in chữ “TRIỀN TƯƠI CHUYÊN THU MUA VẢI TƯƠI...”.
Căn cứ lời khai của Luân Văn T4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Thị M. Quá trình khám xét, Tổ công tác tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh-tím than; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu đen; 19 mảnh giấy được xé ra từ tờ lịch, bên trên có viết nhiều chữ số; 03 quyển vở nhãn “Phúc Thịnh”, loại 120 trang, MS: 904, bên trong mỗi quyển vở có ghi nhiều chữ số; 01 máy tính nhãn hiệu CASIO, loại FX-3650P; 02 chiếc bút bi màu đen; 01 tập giấy có in chữ “TRIỂN TƯƠI CHUYÊN THU MUA VẢI TƯƠI...”.
Căn cứ lời khai của Phùng Thị M, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Thị H (là con gái của M). Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại biên bản làm việc ngày 19/12/2024, Phùng Thị M xác định đã chuyển tổng số tiền ghi số lô, số đề cho Bùi Thị H là 42.000.000 đồng. Cùng ngày Bùi Thị H đầu thú về hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề của bản thân, đồng thời H tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 16 Pro Max, số IMEI: 353558246735872.
Ngày 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn N. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Trong các ngày 23, 25 và 26/12/2024, Nguyễn Ngọc P, Đào Thị L1, Dương Thị L lần lượt đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với Phùng Thị M. Đồng thời P tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, Đào Thị L1 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A23.
Trong các ngày 19, 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành cho Luân Văn T4, Phùng Thị M, Nguyễn Ngọc P nhận dạng qua ảnh. Kết quả: Luân Văn T4 nhận ra Phùng Thị M, M nhận ra Nguyễn Ngọc P và Trần Văn N, P nhận ra M.
Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra nội dung 03 quyển sổ ký hiệu Q1, Q2, Q3 tạm giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Thị M, xác định quyển sổ Q1 là quyển sổ có nội dung Mùi ghi chốt các số lô, đề, gồm 04 trang, M xác định trong đó có 03 trang ký hiệu T1, T2, T3 Mùi chuyển cho Trần Văn N; 01 trang ký hiệu T4 là M chuyển cho Bùi Thị H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành in ra giấy A4, cho Phùng Thị M Ký xác nhận.
Ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra điện thoại nhãn hiệu iPhone XS của Phùng Thị M. Tại cuộc hội thoại với tài khoản Zalo “Anh Nhúc L3”, đăng ký bởi số điện thoại: 0364.681.xxx, Phùng Thị M xác định đó là tài khoản của Trần Văn N. Nội dung tin nhắn ngày 19/12/2024 thể hiện Phùng Thị M chụp ảnh các trang tài liệu T1, T2, T3 trong quyển sổ ký hiệu Q1 (theo biên bản làm việc ngày 19/12/2024) về việc M chốt các số lô, đề trong ngày 19/12/2024 chuyển cho N.
Tại cuộc hội thoại với tài khoản Zalo “H”, đăng ký bởi số điện thoại: 0965.729.xxx, M xác định tài khoản trên là của Bùi Thị H là con gái M. Nội dung tin nhắn ngày 19/12/2024 thể hiện Mùi chụp ảnh trang tài liệu T4 trong quyển sổ ký hiệu Q1 (theo biên bản làm việc ngày 19/12/2024) về việc M chốt số lô, đề khách mua ngày 19/12/2024 chuyển cho H.
Tại cuộc hội thoại với tài khoản Z “Dao Loan” đăng ký bởi số điện thoại: 0369.018.xxx, Phùng Thị M xác định tài khoản trên là của Đào Thị L1. Nội dung tin nhắn ngày 19/12/2024 thể hiện L1 mua số lô, đề của M.
Tại cuộc hội thoại với tài khoản Z “Em Loan T5”, đăng ký bởi số điện thoại 0966.579.xxx, Phùng Thị M xác định tài khoản trên là của người phụ nữ tên L1.
Tại cuộc hội thoại với tài khoản Zalo “Anh Phương T6”, đăng ký bởi số điện thoại 0395.316.xxx, Mùi xác định là của Nguyễn Ngọc P. Tin nhắn ngày 19/12/2024 thể hiện P mua số lô, đề của M.
Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra, so sánh số lô, đề các bị cáo mua, bán ngày 19/12/2024 với kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024. Kết quả xác định:
Số tiền M chuyển số lô, đề cho Trần Văn N là 53.316.000 đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 42.820.000 đồng. Tổng số tiền M đánh bạc với N là 96.136.000 đồng.
Số tiền M chuyển số lô, đề cho Bùi Thị H là 42.000.000 đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 37.000.000 đồng. Tổng số tiền M đánh bạc với H là 79.000.000 đồng.
Số tiền M mua bán số lô, đề với Đào Thị L1 là 7.480.000đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 17.500.000 đồng. Tổng số tiền M đánh bạc với L1 là 24.980.000 đồng.
Số tiền M mua bán số lô, đề với Dương Thị L là 73.900.000 đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền M đánh bạc với L là 133.900.000 đồng.
Số tiền M mua bán số lô, đề với Nguyễn Ngọc P là 8.500.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số miền B ngày 19/12/2024, P không trúng đề nào.
Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành làm việc với Đào Thị L1 về nội dung kiểm tra điện thoại của Phùng Thị M và kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024. Loan xác định nội dung trên đúng với nội dung L1 mua số lô, đề của Phùng Thị M ngày 19/12/2024.
Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành làm việc với Dương Thị L về nội dung kiểm tra điện thoại của Phùng Thị M và kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024. Loan xác định nội dung trên đúng với nội dung L mua số lô, đề của Phùng Thị M ngày 19/12/2024.
Tại bản Kết luận giám định số 119/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết (chữ số) trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A35 – trừ chữ viết có nội dung “03 - 03 - 16 - 26 - 23 - 37 - 49 - 52 - 53 - 51 - 57 tên tài liệu A20; chữ viết có nội dung “170.944 - SD 15.474 - 12780 - 7310” trên tài liệu A29) so với chữ viết Phùng Thị M trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) là do cùng một người viết ra.
Tại bản Kết luận giám định số 31/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Khôi phục trích xuất được 488 dữ liệu tin nhắn ứng dụng zalo từ ngày 01/12/2024 đến ngày 19/12/2024 lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs Max, màu đen, số sê-ri: F2LXL1NJKPHR, số IMEI 357308093035653, số IMEI 2 357308092716568.
- Khôi phục, trích xuất được 12185 dữ liệu tin nhắn ứng dụng zalo từ ngày 01/12/2024 đến ngày 19/12/2024 lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu xanh số sê-ri: R58T433Y3YYD, số IMEI 353220822498413, số IMEI 2 353319902498416.
- Khôi phục, trích xuất được 187807 dữ liệu tin nhắn ứng dụng zalo từ ngày 01/12/2024 đến ngày 19/12/2024 lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 16 Pro Max, màu vàng, số sê-ri: K92PFJWM4M, số IMEI 353558246735872, số IMEI 2 353558247851892.
- Khôi phục, trích xuất được 924 dữ liệu tin nhắn ứng dụng zalo từ ngày 01/12/2024 đến ngày 19/12/2024 lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, màu đen, số sê-ri: 4e43alc7, số IMEI1 860541051271635, số IMEI2 860541051271627.
(Chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên “Du lieu.rar” tổng dung lượng 925MB, mã hàm băm SHA-256: d81c8f4344d68af5651008d6224229b4ffff40a5f5 c6b712423f4ef485e78623, được lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD-R).
Kèm theo Kết luận giám định: 01 (một) đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell, màu vàng, có chữ ký của Giám định viên ở mặt trên của mặt đĩa.
Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như sau:
Hình thức mua bán số lô, đề và cách thức đánh:
Người mua số lô, đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B để tính kết quả thắng thua. Mỗi số lô, số đề bình thường là một số gồm 02 chữ số. Số lô sẽ so với hai số cuối của 27 giải của các bộ giải từ giải đặc biệt đến giải 7, mỗi điềm lô tôi bán với giá 22.000đ/01 điểm (nếu khách lạ thì bán 23.000đ/01 điểm), nếu trúng thì 01 điểm lô trúng thì được thắng 80.000đ, nếu số lô về nhiều hơn một giải (hai hoặc ba nháy) thì sẽ được nhân số tiền thắng cược bằng với số giải đã trúng (nhân 2 hoặc nhân 3), nếu số lô về từ 04 lần trở lên cũng chỉ được trúng 03 giải (ba nháy). Ví dụ: người mua mua số lô 91 = 100 điểm, nếu số 91 trùng với 02 số cuối của một giải nhì và một giải ba (gọi là về 2 nháy) thì sẽ được nhân đôi số tiền trúng thưởng. Nếu về ba nháy thì được nhân 3 lần.
Số đề thì chỉ so với giải đặc biệt hoặc giải nhất (đánh giải nào thì phải hẹn trước ngay từ khi mua bán). Nếu hai số cuối của số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt hoặc giải nhất thì sẽ được thắng tiền với tỉ lệ 01 ăn 70. Ví dụ ai mua 10.000đ số đề 75 đặc biệt, nếu hai số cuối của giải đặc biệt hôm đó là số 75 thì người chơi sẽ thắng 700.000đ. Nếu muốn đánh giải nhất (nhất to) thì phải báo trước là đánh nhất to, khi đánh nếu số đề trùng với 02 số cuối của giải nhất thì sẽ thắng tiền tỉ lệ 1 ăn 80. Nếu không trùng thì sẽ thua tiền đã bỏ ra để mua số đó.
Ngoài ra, còn có cách đánh “Thông cửa” là cả giải đặc biệt và giải nhất. Ví dụ: đánh thông cửa 14 x 50.000đ nghĩa là người này mua số đề 14 cả giải đặc biệt và giải nhất mỗi giải 50.000đ. Nếu hai số cuối của giải nhất hoặc giải đặc biệt là số 14 thì người này sẽ trúng.
Đánh đầu là người mua có thể mua đầu 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 so với giải đặc biệt, tỉ lệ thắng tiền là 01 ăn 8. Ví dụ, người chơi mua đầu 5 x 50.000đ nghĩa là nếu hai số cuối của giải đặc biệt là từ số 50 - 59 thì người này sẽ thắng tiền 400.000đ. Nếu không phải thì thua tiền.
Đánh ba càng thì là mua số đề có ba chữ số so với giải đặc biệt hoặc giải nhất nếu trúng thì được thắng tiền tỉ lệ 01 ăn 400. Ví dụ: mua ba càng số 015 x 10.000đ, ba số cuối của giải đặc biệt là 015 thì người này sẽ thắng 4.000.000đ. Tương tự với ba càng giải nhất. Nếu không trúng sẽ thua tiền đã mua
Cách đánh lô xiên, có thể đánh xiên 02 (tỉ lệ thắng tiền là 01 ăn 10) hoặc xiên ba (tỉ lệ thắng tiền là 01 ăn 40), xiên 04 (tỉ lệ ăn tiền là 01 ăn 100). Khi đánh lô xiên thì tất cả các số lô đều phải trùng với một số nào đó trong số 27 giải. Ví dụ: mua xiên 02: 05 - 50 x 10.000đ. N1 nếu cả số 05 và số 50 đều trúng thì được ăn 100.000đ.
Đối với Nguyễn Ngọc P:
Khoảng 16 giờ 59 phút, ngày 19/12/2024, Nguyễn Ngọc P sử dụng điện thoại di động của mình, đăng nhập vào tài khoản zalo của P đăng ký bằng số điện thoại 0395.316.xxx có tên tài khoản “Nguyễn Ngọc P” nhắn tin zalo với Phùng Thị M, tên tài khoản là “Mui Câu T7” để mua số lô, đề của M. P mua của M các số đề (hai số cuối của giải đặc biệt) gồm các số: Số đề 59 = 500.000 đồng; số đề 54 = 500.000 đồng; số đề 45 = 500.000 đồng; Số đề 85 = 500.000 đồng; Số đề nhất to (hai số cuối của giải nhất) gồm các số 37 = 500.000 đồng; số đề đầu 3 (từ 30 đến 39) = 3.000.000 đồng; số đề đầu 5 (từ 50 đến 59) = 3.000.000 đồng; Tổng số tiền Phương mua số đề của M là 8.500.000 đồng. Do là chỗ quen biết nên M giảm cho P 20% nên số tiền mua số đề P phải trả cho M là: 6.800.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 19/12/2024, P không trúng số đề nào. Tổng số tiền Phương đánh bạc là: 8.500.000 đồng.
Đối với Đào Thị L1:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, Đào Thị L1 ghi số đề đặc biệt, nhất to mà L1 định mua vào 02 (hai) tờ giấy sau đó chụp ảnh lại, L1 sử dụng tài khoản zalo “Đào Thị L1” đăng ký bằng số điện thoại 0369.018.xxx gửi 02 ảnh trên qua tài khoản zalo của M được lưu tên “Phùng mùi chữ” để mua số đề của M. Sau đó L1 có nhắn thêm cho M mua 100 điểm lô. L1 mua của M số đề đặc biệt 73, số đề nhất to 72 với số tiền 5.280.000 đồng. Mùi bán số lô với giá 22.000đ/01 điểm lô và giảm 20% trên tổng số tiền đề và lô xiên. Tổng số tiền L1 mua số lô, số đề của M là 7.480.000 đồng, số tiền mua số đề, số lô Đào Thị L1 phải trả cho M là: 6.424.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 19/12/2024, Đào Thị L1 trúng tiền mua số lô, số đề là 17.500.000 đồng, gồm: Trúng 120.000 đồng/ 01 số đề đầu 3 đặc biệt = 8.400.000 đồng; Trúng 30.000 đồng/01 số đầu 1 nhất to = 2.100.000 đồng; Trúng 100.000 đồng số đề 32 = 7.000.000 đồng. Tổng số tiền Đào Thị L1 đánh bạc là: 7.480.000 đồng + 17.500.000 đồng = 24.980.000 đồng.
Đối với Dương Thị L:
Khoảng 17 giờ 11 phút ngày 19/12/2024, Dương Thị L sử dụng tài khoản zalo tên “Beo” của mình đăng ký bằng số điện thoại 0966.579.xxx nhắn tin đến tài khoản zalo của Phùng Thị M lưu tên là “Mùa T8” để mua số lô, số đề. L mua của M 1.950 điểm lô; 16.400.000 đồng tiền số đề đặc biệt; 14.400.000 đồng tiền đề nhất to và 200.000 đồng tiền lô xiên. Mùi bán số lô với giá 22.000đ/01 điểm lô và giảm 20% trên tổng số tiền đề và lô xiên nên. Tổng số tiền Dương Thị L mua số lô, số đề của M là 73.900.000 đồng, thực tế số tiền L mua số lô, số đề phải trả cho M là 67.700.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 19/12/2024, Dương Thị L trúng 150 điểm lô số lô 57; 200 điểm số lô 55; 50 điểm số lô 09; 400.000 đồng số đề đặc biệt 32. Khi thắng thì 01 điểm lô được 80.000 đồng, 1.000 đồng tiền đề đặc biệt được 70.000 đồng. Số tiền L thắng là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền Dương Thị L đánh bạc là 73.900.000 đồng + 60.000.000 đồng = 133.900.000 đồng.
Đối với Bùi Thị H:
Ngày 19/12/2024, Phùng Thị M thỏa thuận với Bùi Thị H, khi ghi số lô, số đề cho khách xong thì sẽ chụp ảnh lại, đến khoảng 18 giờ sẽ gửi cho H qua tài khoản zalo của H, M được hưởng 20% trên tổng số tiền bán số lô, đề (đặc biệt, nhất to, lô xiên) và H mua của M 21.900 đồng/01 điểm lô, còn M bán cho khách bao nhiêu tiền trên một điểm lô thì tùy M (nếu khách quen thì 22.000 đồng/lô, khách lạ 23.000 đồng/lô). Nếu khách trúng thì 1.000 đồng tiền đề (đặc biệt, nhất to) sẽ được 70.000 đồng; 01 điểm lô được 80.000 đồng. Vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 19/12/2024, sau khi bán các số lô, số đề cho khách, M chụp 01 ảnh ghi các số lô, số đề gửi cho Bùi Thị H qua ứng dụng zalo, sau đó H chốt lại các số lô, số đề rồi gửi lại cho M. Cụ thể M chuyển cho H 56 số đề đặc biệt với số tiền 10.800.000 đồng; 63 số đề nhất to với số tiền 11.400.000 đồng và 900 điểm lô. Như đã thỏa thuận số tiền M chuyển số lô, số đề cho H là: 22.200.000 đồng tiền đề các loại, 900 điểm lô x 22.000 đồng = 2.200.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề là 42.000.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 19/12/2024, tổng số tiền lô, đề trúng là 37.000.000 đồng, gồm: Trúng 200.000 đồng/ 01 số đề đầu 3 = 14.000.000đ; Trúng 100.000 đồng số đề 32 = 7.000.000đ; Trúng 100 điểm số lô 55 = 8.000.000 đồng; Trúng 100 điểm số lô 57 = 8.000.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc với M là 42.000.000 đồng + 37.000.000 đồng = 79.000.000 đồng. Số tiền H thu lời 470.000 đồng.
Đối với hành vi của Phùng Thị M:
Ngày 19/12/2024, M đã nhận ghi số lô, số đề của khách bằng hình thức trực tiếp và qua ứng dụng Zalo trong đó có Luân Văn T4, Nguyễn Ngọc P, Đào Thị L1, Dương Thị L và một số người khác (M không quen biết) sau đó M ghi lại toàn bộ các số lô, số đề vào 04 trang giấy trong một quyển sổ rồi chụp ảnh lại. 03 ảnh có số lô, số đề M chuyển qua ứng dụng Zalo cho Trần Văn N và 01 ảnh M chuyển qua ứng dụng Zalo cho con gái là Bùi Thị H để hưởng hoa hồng, ngoài ra trong danh sách số lô M chuyển cho Trần Văn N, H thì M còn giữ (ôm) lại một số điểm lô của khách để hưởng lợi. Số tiền Phùng Thị M đánh bạc vào ngày 19/12/2024 cụ thể như sau:
- Số tiền M chuyển số lô, đề cho Bùi Thị H là 42.000.000 đồng, trong đó 22.200.000 đồng tiền đề, 900 điểm lô x 22.000 đồng = 19.800.000 đồng. Số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 37.000.000 đồng. Tổng số tiền M đánh bạc với H là: 42.000.000 đồng + 37.000.000 đồng = 79.000.000 đồng. Mùi được hưởng hoa hồng 20% trên số tiền đề và 100 đồng/01 điểm lô chuyển cho H, cụ thể: 42.000.000 đồng x 20% + 900 điểm lô x 100 đồng/lô = 4.530.000 đồng.
- Số tiền M chuyển số lô, đề cho Trần Văn N là 53.316.000 đồng, trong đó: 24.870.000 đồng tiền đề, 330.000 đồng lô xiên và 1.278 điểm lô x 22.000 đồng = 28.116.000 đồng. Số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 42.820.000 đồng. Tổng tiền M đánh bạc với N là: 53.316.000 đồng + 42.820.000 đồng = 96.136.000 đồng. Mùi được hưởng hoa hồng 25% trên số tiền đề, lô xiên và 100 đồng / 01 điểm lô chuyển cho N, cụ thể: (24.870.000 đồng + 330.000 đồng) x 25% + 1.278 điểm lô x 100 đồng/lô = 13.456.800 đồng
Như vậy, tổng số tiền M đánh bạc với N và H là 79.000.000 + 96.136.000 đồng = 175.136.000 đồng. Tổng số tiền hoa hồng M được hưởng là 4.530.000 đồng + 13.456.800 đồng = 17.986.800 đồng.
Đối với Trần Văn N
có hành vi đánh bạc với Phùng Thị M với tổng số tiền là 96.136.000 đồng. Tuy nhiên sau khi phạm tội N bỏ trốn khỏi địa phương, chưa tiến hành làm việc được với N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết đình truy tìm đối với N nhưng chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã Quyết định tách hành vi của N tiếp tục điều tra để xử lý sau.
Đối với anh Luân Văn T4 có hành vi đánh bạc với Phùng Thị M nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, anh T4 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do vậy, hành vi của anh L2 Văn Thư không cấu thành tội “Đánh bạc”. Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh B Quyết định đã xử phạt hành chính đối với Luân Văn T4. Đối với một số người mua số lô, đề của M ngày 19/12/2024, do M khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh-tím than, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu đen, 19 mảnh giấy được xé ra từ tờ lịch, bên trên có viết nhiều chữ số, 03 quyển vở nhãn Phúc Thịnh, loại 120 trang, MS: 904, bên trong mỗi quyển vở có ghi nhiều chữ số, 01 máy tính nhãn hiệu CASIO, loại FX-3650P, 02 chiếc bút bi màu đen và 01 tập giấy có in chữ “TRIỂN TƯƠI CHUYÊN THU MUA VẢI TƯƠI...” của Phùng Thị M; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone16 Pro M, số IMEI: 353558246735872 của Bùi Thị H; 01 mảnh giấy (cáp lô) một mặt có in chữ “TRIỂN TƯƠI CHUYÊN THU MUA VẢI THIỀU TƯƠI”, một mặt viết số lô do L2 Văn Thư giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95 của Nguyễn Ngọc P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A23 của Đào Thị L1 được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang để xử lý theo quy định.
* Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Phùng Thị M, Dương Thị L và Bùi Thị H về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Đào Thị L1, Nguyễn Ngọc P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Phùng Thị M, Bùi Thị H khai nhận việc tổ chức đánh bạc là tự phát, lần đầu đánh bạc, không có sự phân công, phân nhiệm cụ thể. Bị cáo Dương Thị L, Đào Thị L1 và Nguyễn Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, các bị cáo xác định chưa thanh toán số tiền đánh bạc thì bị phát hiện. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này. Các bị cáo không có ý kiến về lời khai của những người vắng mặt.
* Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, về tội danh của các bị cáo Phùng Thị M, Bùi Thị H thì thấy rằng: Qua xét hỏi làm rõ hành vi của các bị cáo này cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát thay đổi tội danh từ tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự sang tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với M, H và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phùng Thị M từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Dương Thị L 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đến 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bùi Thị Hiền T9 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đào Thị L1 từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đến 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Phạt tiền Nguyễn Ngọc P từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, truy thu tiền đánh bạc, tiền thu lời bất chính và án phí đối với các bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã ăn năn, hối hận và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L (nay là thị xã C), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn (nay là thị xã C), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố:
[3.1] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người làm chứng, tang vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/12/2024, Phùng Thị M (là thư ký) đã có hành vi ghi số lô, số đề của Dương Thị L, Đào Thị L1 và Nguyễn Ngọc P và một số người khác, sau đó chuyển cho Trần Văn N và Bùi Thị H (chủ đề) để hưởng lợi nhuận (phần trăm hoa hồng), cụ thể:
Số tiền mua số lô, đề của Dương Thị L là 73.900.000 đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền Dương Thị L đánh bạc là: 133.900.000 đồng.
Số tiền mua số lô, đề của Đào Thị L1 là 7.480.000 đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 17.500.000 đồng. Tổng số tiền Đào Thị L1 đánh bạc là: 24.980.000 đồng.
Số tiền mua số đề của Nguyễn Ngọc P là 8.500.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số miền B ngày 19/12/2024, P không trúng số đề nào. Số tiền Nguyễn Ngọc P đánh bạc là 8.500.000 đồng.
Số tiền đề, tiền lô mà Bùi Thị H nhận của Phùng Thị M là 42.000.000 đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 37.000.000 đồng. Tổng số tiền M đánh bạc với H là: 79.000.000 đồng. Số tiền H thu lời là 470.000 đồng.
Ngoài ra M chuyển số lô, đề cho Trần Văn N là 53.316.000 đồng; số tiền trúng lô, đề sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024 là 42.820.000 đồng. Số tiền M đánh bạc với N là: 96.136.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền M đánh bạc với N và H là 175.136.000 đồng. Mùi được hưởng 20% tiền đề và 100 đồng/01 điểm lô trong số lô, số đề chuyển cho H; được hưởng 25% tiền đề, lô xiên và 100 đồng/01 điểm lô trong số lô, số đề chuyển cho N. Tổng số tiền M thu lời là 17.986.800 đồng.
[3.2] Tại bản Cáo trạng xác định số tiền của Nguyễn Ngọc P là 6.800.000 đồng, số tiền đánh bạc của Đào Thị L1 là 74.470.000 đồng, số tiền đánh bạc của Dương Thị L là 127.700.000 đồng, số tiền đánh bạc của Bùi Thị H là 74.470.000 đồng, số tiền đánh bạc của Phùng Thị M là 177.826.000 đồng. Đây là số tiền thực tế P, Đào Thị L1, Dương Thị L đưa cho người ghi đề M cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề trong trường hợp người chơi số đề có trúng số đề. Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay, việc xác định số tiền dùng để đánh bạc (đánh đề) vẫn được thực hiện theo hướng dẫn tại các điểm a, b mục 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, số tiền của người chơi đề dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề (trong trường hợp người chơi số đề có trúng số đề) hoặc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề (trong trường hợp người chơi số đề không trúng số đề). Số tiền mà họ đã bỏ ra không chỉ là số tiền thực tế họ đưa cho người ghi đề mà phải là số tiền ghi trên tờ phơi hoặc giấy tờ khác chứng minh việc đánh bạc trái phép.
Như vậy, phải xác định số tiền đánh bạc của Nguyễn Ngọc P là 8.500.000 đồng, số tiền đánh bạc của Đào Thị L1 là 24.980.000 đồng, số tiền đánh bạc của Dương Thị L là 133.900.000 đồng, số tiền đánh bạc của Bùi Thị H là 79.000.000 đồng, số tiền đánh bạc của Phùng Thị M là 175.136.000 đồng. Bản Cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát mặc dù xác định sai về số tiền đánh bạc của các bị cáo nhưng trong bản Luận tội của Kiểm sát viên đã xác định lại số tiền đánh bạc của các bị cáo như trên là phù hợp.
[3.3] Hành vi của Dương Thị L đã yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; hành vi của Đào Thị L1, Nguyễn Ngọc P đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng truy tố bị cáo Dương Thị L về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Đào Thị L1, Nguyễn Ngọc P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo Bùi Thị H, Phùng Thị M đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Bùi Thị H, Phùng Thị M về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là chưa đúng, song tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát thay đổi tội danh đề nghị sang tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến bổ sung, kết luận thay đổi tội danh từ tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự sang tội “Tổ chức đánh bạc” là tội nhẹ hơn và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 298, khoản 1 Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây nên dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn khác trong xã hội. Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ hành vi mà các bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện với mong muốn thu lời bất chính. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt thích đáng đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:
[5.1] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phùng Thị M, Dương Thị L, Bùi Thị H, Đào Thị L1 và Nguyễn Ngọc P khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Đào Thị L1 và Nguyễn Ngọc P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Dương Thị L, Bùi Thị H, Đào Thị L1 và Nguyễn Ngọc P sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo Phùng Thị M đã nộp trước một phần số tiền thu lời bất chính; bị cáo Phùng Thị M, Nguyễn Ngọc P có nhiều đóng góp cho địa phương, được tặng thưởng giấy khen nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5.4] Về vai trò của từng bị cáo thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Hành vi của các bị cáo là tự phát, không có sự phân công, phân nhiệm cụ thể. Đối với hành vi tổ chức đánh bạc: Bị cáo Bùi Thị H giữ vai trò chính, là người trực tiếp nhận số lô, số đề do Phùng Thị M ghi của người chơi. Tiếp đến là bị cáo Phùng Thị M là thư ký, trực tiếp ghi số lô, số đề của người chơi rồi chuyển cho Bùi Thị H để hưởng hoa hồng.
Đối với hành vi đánh bạc: Bị cáo Dương Thị L tham gia đánh bạc với số tiền lớn nhất nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Đào Thị L1, Nguyễn Ngọc P. Sau đó là đến vai trò của bị cáo Đào Thị L1. Bị cáo Nguyễn Ngọc P sử dụng số tiền đánh bạc là ít nhất nên có vai trò cuối cùng.
[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Phùng Thị M, Dương Thị L, Bùi Thị H, Đào Thị L1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương bằng hình thức cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hiện nay bị cáo hiện đang là Chi hội trưởng Chi hội Nông dân tổ dân phố P, phường P, hàng tháng có thu nhập ổn định. Quá trình công tác tại địa phương bị cáo đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhiều năm được các cấp có thẩm quyền tặng giấy khen. Từ những tình tiết nêu trên, không cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình thức phạt tù có thời hạn mà chỉ cần xử phạt bị cáo bằng hình thức phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt chính là phạt tiền và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Đối với mức hình phạt đối với bị cáo Phùng Thị M, Bùi Thị H mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử thấy: Đây là hai bị cáo có vai trò chính, tổ chức để các bị cáo khác tham gia đánh bạc. Bị cáo M ngoài chuyển số lô, số đề cho bị cáo H còn chuyển cho Trần Văn N. Do vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo M, H và cần xử phạt bị cáo M, H cao hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321, khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo tham gia đánh bạc với mục đích trục lợi nên cần buộc các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P, do hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Hình sự.
[8] Về những vấn đề khác: Đối với Trần Văn N có hành vi đánh bạc với Phùng Thị M với tổng số tiền là 96.136.000 đồng. Tuy nhiên sau khi phạm tội N bỏ trốn khỏi địa phương, chưa tiến hành làm việc được với N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết đình truy tìm đối với N nhưng chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã Quyết định tách hành vi của N tiếp tục điều tra để xử lý sau. Đối với một số người mua số lô, đề của M ngày 19/12/2024, do M khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ làm rõ. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của những đối tượng trên theo quy định pháp luật.
Đối với Luân Văn T4 có hành vi đánh bạc với Phùng Thị M nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, T4 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do vậy, hành vi của Luân Văn T4 không cấu thành tội “Đánh bạc”. Trưởng phòng K Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 24/3/2025 đối với L2 Văn Thư về hành vi “Mua các số lô, số đề” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình là có căn cứ.
Đối với Phùng Thị M ngoài việc chuyển số lô, số đề cho Bùi Thị H, Trần Văn N ngày 19/12/2024 thì M có hành vi trực tiếp giữ lại (ôm) 80 điểm lô. Tuy nhiên, căn cứ kết quả xổ số miền Bắc ngày 19/12/2024, M không trúng số lô, đề nào. Mùi chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của M không cấu thành tội “Đánh bạc”, cần đề nghị xử phạt vi phạm hành chính với M là có căn cứ.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 19 (mười chín) mảnh giấy được xé ra từ tờ lịch, bên trên có viết nhiều chữ số; 03 (ba) quyển vở nhãn Phúc Thịnh, loại 120 trang, MS: 904, bên trong mỗi quyển vở có ghi nhiều chữ số; 01 (một) máy tính nhãn hiệu CASIO, loại FX-3650P; 02 (hai) chiếc bút bi màu đen; 01 (một) mảnh giấy, một mặt có in chữ “TRIỂN TƯƠI CHUYÊN THU MUA VẢI TƯƠI...”, một mặt viết chữ số là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh-tím than quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Phùng Thị M, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Đối với 04 điện thoại di động còn lại thu giữ của các bị cáo là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù các bị cáo chưa thanh toán tiền cho nhau nhưng các bị cáo đã thỏa thuận về việc mua số lô, số đề cho đến khi mở thưởng là đã hoàn thành việc đánh bạc. Việc trả tiền trước hoặc sau chỉ là cách thức thực hiện mà không làm thay đổi bản chất của việc người phạm tội dùng tiền làm phương tiện, công cụ để đánh bạc. Do vậy, cần truy thu số tiền mua số lô, số đề của người chơi và tiền trúng thưởng của chủ đề vì đây là số tiền sử dụng vào việc phạm tội và khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà họ sẽ được hưởng nếu không bị phát hiện theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, để thu hút con bạc, Phùng Thị M đã thỏa thuận với Dương Thị L, Đào Thị L1, Nguyễn Ngọc P bằng cách triết khấu 20% cho những người chơi đề khi họ ghi đề, lô xiên. Vì vậy, khi truy thu số tiền các bị cáo Dương Thị L, Đào Thị L1, Nguyễn Ngọc P dùng vào việc đánh bạc thì cần truy thu của bị cáo Phùng Thị M 20% số tiền triết khấu tiền mua số đề, lô xiên. Cụ thể như sau:
Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc P 8.500.000 đồng x 80% = 6.800.000 đồng; truy thu của bị cáo Phùng Thị M 8.500.000 đồng x 20% = 1.700.000 đồng.
Truy thu của bị cáo Đào Thị L1: 5.280.000 đồng tiền đề x 80% + 100 điểm lô x 22.000 đồng/01 điểm lô = 6.424.000 đồng; truy thu của bị cáo Phùng Thị M 5.280.000 đồng x 20% = 1.056.000 đồng.
Truy thu của bị cáo Dương Thị L: (30.800.000 đồng tiền đề + 200.000 đồng lô xiên) x 80% + 1.950 điểm lô x 22.000 đồng/01 điểm lô = 67.700.000 đồng; truy thu của bị cáo Phùng Thị M (30.800.000 đồng tiền đề + 200.000 đồng lô xiên) x 20% = 6.200.000 đồng.
Truy thu của bị cáo Bùi Thị H 470.000 đồng là tiền thu lời và 37.000.000 đồng là tiền trúng thưởng. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 470.000 đồng theo Biên lai thu số 0002589 ngày 10/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo H còn phải nộp 37.000.000 đồng.
Truy thu của Phùng Thị M số tiền thu lời là 17.986.800 đồng. Ngoài ra cần truy thu của M số tiền người chơi đã mua 80 điểm lô mà M tự ôm, không chuyển cho chủ đề (trong đó 50 điểm lô bán cho L2 Văn Thư với giá 23.000 đồng/01 điểm lô và 30 điểm lô với giá 22.000 đồng/01 điểm lô) là: 1.810.000 đồng. Tổng cộng truy thu của M là: 1.700.000 đồng + 1.056.000 đồng + 6.200.000 đồng + 17.986.800 đồng + 1.810.000 đồng = 28.752.800 đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 22.050.000 đồng theo Biên lai thu số 0002590 ngày 10/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo M còn phải nộp 6.252.800 đồng.
[11] Về án phí: Các bị cáo Phùng Thị M, Dương Thị L, Bùi Thị H, Đào Thị L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Ngọc P là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn cho bị cáo P không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Nội dung bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phùng Thị M 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
1.2. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bùi Thị H 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
1.3. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Dương Thị L 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
1.4. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đào Thị L1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
1.5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Ngọc P số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 19 (mười chín) mảnh giấy được xé ra từ tờ lịch, bên trên có viết nhiều chữ số; 03 (ba) quyển vở nhãn Phúc Thịnh, loại 120 trang, MS: 904, bên trong mỗi quyển vở có ghi nhiều chữ số; 01 (một) máy tính nhãn hiệu CASIO, loại FX-3650P; 02 (hai) chiếc bút bi màu đen; 01 (một) mảnh giấy, một mặt có in chữ “TRIỂN TƯƠI CHUYÊN THU MUA VẢI TƯƠI...”, một mặt viết chữ số.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max, màu đen, số sê-ri: F2LXL1NJKPHR, số IMEI 35730809035653, số IMEI 2: 357308092716568; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 16 Pro Max, màu vàng, số IMEI: 353558246735872, số IMEI 2: 353558247851892; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, màu đen, số sê-ri: 4e43alc7, số IMEI 1: 860541051271635, số IMEI 2: 860541051271627; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu xanh số sê-ri: R58T433Y3YYD, số IMEI: 353220822498413, số IMEI 2: 353319902498416.
- Trả lại bị cáo Phùng Thị M: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh-tím than nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2025 giữa Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang).
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc P: 6.800.000 đồng (Sáu triệu, tám trăm nghìn đồng).
- Truy thu của bị cáo Đào Thị L1: 6.424.000 đồng (Sáu triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
- Truy thu của bị cáo Dương Thị L: 67.700.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu, bảy trăm nghìn đồng).
- Truy thu của bị cáo Bùi Thị H: 37.470.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, bốn trăm bảy mươi nghìn đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 470.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0002589 ngày 10/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo H còn phải nộp 37.000.000 đồng (Ba mươi bảy triệu đồng).
- Truy thu của bị cáo Phùng Thị M: 28.752.800 đồng (Hai mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn, tám trăm đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0002590 ngày 10/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo M còn phải nộp 6.252.800 đồng (Sáu triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn, tám trăm đồng).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Phùng Thị M, Dương Thị L, Bùi Thị H và Đào Thị L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn cho bị cáo Nguyễn Ngọc P không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Minh |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 19/12/2024, Phùng Thị M (là thư ký) đã có hành vi ghi số lô, số đề của Dương Thị L, Đào Thị L1 và Nguyễn Ngọc P và một số người khác, sau đó chuyển cho Trần Văn N và Bùi Thị H (chủ đề) để hưởng lợi nhuận (phần trăm hoa hồng)
