TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày : 29 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Tuấn – Cán bộ hưu trí;
- Bà Trương Thị Thu Thủy – Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Minh Hải, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp Bình An 1, xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu Tăng và bà Đoàn Thị Huệ; Anh em ruột có 03 người bị cáo là người thứ ba; Vợ Nguyễn Thị Nhung (Sống chung như vợ chồng, nay không còn sốn chung); Vợ Nguyễn Thị Hậu (Sống chung như vợ chồng, nay không còn sốn chung); Con có 02 người lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị tạm giam ngày 17/10/2024 đến ngày 19/11/2024 tại Phân Trại tạm giam khu vực huyện Châu Phú và từ ngày 19/11/2024 cho đến nay tại Phân Trại tạm giam khu vực huyện Phú Tân. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy - Công an huyện Châu Phú phối hợp với Công an xã Bình Long và Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh An Giang tổ chức tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã Bình Long, huyện Châu Phú. Khi đến khu vực tổ 11, ấp Chánh Hưng, xã Bình Long, huyện Châu Phú thì phát hiện Trần Minh Hải đang điều khiển xe mô tô biển số 67D1- 062.95 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi áo khoác màu đen bên phải Hải đang mặc có 01 gói thuốc lá hiệu Jet chứa 01 bọc nilon trong suốt hàn kín được quấn băng keo màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc, Hải khai nhận là ma túy đá mua của người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực chợ Kênh Đào thuộc phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc với giá 3.000.000 đồng để sử dụng. Do đó, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng. Quá trình điều tra Hải khai báo thành khẩn, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Kết luận giám định số 1484/KL-KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, dấu vân tay màu đỏ ghi tên Trần Minh Hải và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Duy Minh, Phạm Văn Tài. Bên trong có 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, khối lượng: 9,9230g (Không phẩy chín hai ba không gam) (Ký hiệu M); Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 9,9230 gam (Không phẩy chín hai ba không gam).(Bút lục số: 58-60)
Kết luận giám định số 385/KL-KTHS ngày 23/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận: Xe mô tô hửi giám định (biển số 67D1-062.95) có số khung, số máy không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ. (Bút lục số: 100)
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKS.CP ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Bá Phú về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung nêu trên, bị cáo đã ăn năn, hối hận; ma túy bị cáo quắn băng keo đen để trong gói thuốc nhằm mục đích để cơ quan chức năng khó phát hiện; hiện tại không còn sống chung như vợ chồng với ai, cha mẹ bị cáo đã chết 02 con của bị cáo không có ai chăm sóc từ khi bị cáo bị giam. Do đó, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của
người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Minh Hải từ 06 (Sáu) năm đến 07 (Bảy) năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 1484/KL-KTHS ngày 21/10/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Duy Minh. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 9,8085g (Chín phẩy tám không tám năm gam); 01 (Một) gói thuốc lá hiệu Jet (đã qua sử dụng); 01 (Một) miếng băng keo màu đen.
- + Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô biển số 67D1-062.95, số khung: RLCJ1PB30EY047114, số máy: 1PB3-047117 (đã qua sử dụng).
Bị cáo không bào chữa, tranh luận, thừa nhận hành vi vi phạm, xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết mình sai, ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều phù hợp.
- - Bị cáo có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
[2] Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Minh Hải khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do phạm tội gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu
thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Minh Hải đã có hành vi tàng trữ trái phép 9,9230 gam Methamphetamine là chất ma túy để sử dụng thì bị phát hiện.
Thấy rằng, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã tàng trữ 9,9230 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng nên hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
[3] Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, xét thấy bị cáo không biết chữ, nhận thức pháp luật hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Ngoài lần vi phạm lần này, trước đó bị cáo chưa bị xử lý hành vi vi phạm pháp luật nào khác.
[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hiện nay tình trạng tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý diễn ra nhiều trên địa bàn. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người dân, làm mất an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang dư luận. Bị cáo là thanh niên khoẻ mạnh không cố gắng lao động nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình mà lại sử dụng ma tuý để thoả mãn cơn nghiện. Ma tuý không những gây ảo giác, tổn hại sức khoẻ cho bản thân người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến thể chất cho thế hệ mai sau, làm tăng gánh nặng cho gia đình, xã hội và Nhà nước. Bên cạnh đó, để cơ quan chức năng khó phát hiện bị cáo đã có thủ đoạn dùng băng keo đen quán ma túy lại và để vào gói thuốc hút. Do đó, Hội đồng xét sử sẽ xem xét, cân nhắc các tình tiết này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng, cần phải có hình phạt tương ứng để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thấy rằng, 01 (Một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 1484/KL-KTHS ngày 21/10/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Duy Minh. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 9,8085g (Chín phẩy tám không tám năm gam); 01 (Một) gói thuốc lá hiệu Jet (đã qua sử dụng); 01 (Một) miếng băng keo màu đen. Là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Thấy rằng, 01 (Một) chiếc xe mô tô biển số 67D1-062.95, số khung: RLCJ1PB30EY047114, số máy: 1PB3-047117 (đã qua sử dụng), không phải là công cụ phương, tiện dùng vào việc phạm tội. Hiện chưa tìm được chủ sở hữu nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Thấy rằng, quá trình điều tra bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, bị hại vắng mặt tại phiên tòa không có văn bản thay đổi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo Trần Minh Hải phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Hải phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Hải 06 (Sáu) năm tù, thời hạn từ tính kể từ ngày 17/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 1484/KL-KTHS ngày 21/10/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng
Khoa, Nguyễn Duy Minh. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 9,8085g (Chín phẩy tám không tám năm gam); 01 (Một) gói thuốc lá hiệu Jet (đã qua sử dụng); 01 (Một) miếng băng keo màu đen.
Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô biển số 67D1-062.95, số khung: RLCJ1PB30EY047114, số máy: 1PB3-047117 (đã qua sử dụng.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 4 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang và Chi cục Thị hành án dân sự huyện Châu Phú.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Minh Hải phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Hoà |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
