Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26/5/2025

V/v: “Kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Hòa;
  2. Ông Hoàng Văn Ngân.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 77/2025/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc kiện “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đào Phúc T - Sinh năm 1968

Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi ở: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”

2. Bị đơn: Bà Lê Thị V - Sinh năm 1971

Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đào Phúc T trình bày: Ông Đào Phúc T và bà Lê Thị V tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau ngày 13/8/1990 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian dài sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, làm ăn kinh tế, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy lục đục, cãi cọ, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ với nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Từ khoảng tháng 8/2019 vợ chồng ông đã sống ly thân, đầu tháng 3/2025 bà V phạm tội và bị bắt tạm giam tại trại giam Công an tỉnh L. Đến nay ông T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông Đào Phúc T được ly hôn với bà Lê Thị V.

Về con chung: Quá trình chung sống ông Đào Phúc T và bà Lê Thị V có 01 người con chung là cháu Lê Tuấn V1, sinh ngày 02/12/1990 đã trưởng thành nên ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản: Ông Đào Phúc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 15/4/2025, bị đơn bà Lê Thị V khai: Bà Lê Thị V và ông Đào Phúc T kết hôn với nhau năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hanh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, làm ăn kinh tế, vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ khoảng tháng 8/2019 vợ chồng đã sống ly thân. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn bà Lê Thị V nhất trí ly hôn với ông Đào Phúc T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là cháu Lê Tuấn V1, sinh ngày 02/12/1990 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về việc “Ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về hôn nhân: Ông Đào Phúc T và bà Lê Thị V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 13/8/1990 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian dài sau đó mới phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, làm ăn kinh tế, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy lục đục, cãi cọ, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ với nhau. Từ tháng 8/2019 vợ chồng ông T, bà V đã sống ly thân. Đầu tháng 3/2025 bà V phạm tội và bị bắt tạm giam tại trại giam Công an tỉnh L. Đến nay ông T xin ly hôn, bà V đồng ý ly hôn. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa ông T và bà V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đào Phúc T với bà Lê Thị V

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống ông Đào Phúc T với bà Lê Thị V có 01 người con chung là cháu Lê Tuấn V1, sinh ngày 02/12/1990 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Ông Đào Phúc T và bà Lê Thị V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Ông Đào Phúc T phải chịu tiền án phí ly hôn.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Phúc T.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Đào Phúc T và bà Lê Thị V. Quan hệ hôn nhân của ông Đào Phúc T và bà Lê Thị V được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Ông Đào Phúc T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Xác nhận ông T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: [...] ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Công ty cổ phần T1 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 172 ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai được trừ vào tiền án phí phải nộp.

3. Quyền kháng cáo: Ông Đào Phúc T, bà Lê Thị V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh; TP
  • - Các đương sự;
  • - THADS;
  • - UBND xã Thái Niên, huyện
  • Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Thị Tuyết Lanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về kiện ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện "Ly hôn" giữa ông Đào Phúc T và bà Lê Thị V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger