Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST.

Ngày: 08-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Ông Nguyễn Văn An;
  • Ông Tạ Kỳ Trung.

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân

thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây

Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thân – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc H, sinh năm 1982, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: số G, đường số F, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: 1/8/57/1, đường P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2; vợ Nguyễn Đặng Thanh T, con: 01 người sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: ngày 18 tháng 3 năm 2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh xử phạt 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 71/QĐ-XPHC ngày 18 tháng 3 năm 2022 (bị cáo đã nộp phạt xong); ngày 14 tháng 10 năm 2023 bị Trưởng Công an thành phố T1, tỉnh Trà Vinh xử phạt 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 121/QĐ-XPHC ngày 14 tháng 10 năm 2023 (bị cáo đã nộp phạt xong), bị cáo bị tạm giữ ngày 17/12/2024 chuyển tạm giam ngày 26/12/2024 đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trà Văn D, sinh năm 1980 - Xin vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp P, xã P1, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1982 - Có mặt.

Nơi cư trú: 286/11/49 đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 17-12-2024, Nguyễn Quốc H điều khiển xe mô tô biển số 52K1-6502 từ phường T, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh để đi bán vé số. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đến trước nhà Ông Trà Văn D thuộc ấp P, xã P1, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. H dừng xe mô tô phía ngoài rồi đi bộ vào trong sân, nhìn thấy có một điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số máy MT5X2LL/A, số sê ri: FFMXP462KPHF, màu vàng trên ghế nhựa, không thấy có người nên H nẩy sinh ý định trộm bán lấy tiền tiêu xài, sau đó H lén lút đi đến lấy điện thoại bỏ vào túi áo khoác màu đen bên trái rồi đi ra ngoài, lên xe mô tô bỏ chạy thì bị ông D phát hiện truy hô, cùng mọi người truy đuổi bắt giữ huy cùng tang vật giao cho công an xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động, N màu đen, loại máy 105, 4G, số IMEI 1: 353394480722057, số IMEI 2: 353394480722065, bên trong có gắn sim 0978005134 (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô biển số 52K1- 6502, nhãn hiệu Honda, loại xe Citi, màu sơn đỏ, số máy CT100E1529127, số khung: CT100F1 529031(xe đã qua sử dụng); 01 áo khoác dài tay màu đen có chữ AIR FRANCE; tiền Việt Nam 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 76/KL- HĐĐGTS ngày 18-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số máy MT5X2LL/A, số sê ri: FFMXP462KPHF trị giá 2.767.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSTrB ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Nguyễn Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị hại anh Trà Văn D vắng mặt tại phiên toà, nhưng trong quá trình điều tra anh D đã nhận lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số máy MT5X2LL/A, số sê ri: FFMXP462KPHF bị mất trộm và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thanh H3 trình bày: xe môtô biển số 52K1- 6502, nhãn hiệu Honda, loại xe Citi, màu sơn đỏ, số máy CT100E1529127, số khung: CT 100F1529031là của chị mua của cậu ruột là ông Nguyễn Văn T1 cho bị cáo mượn để đi bán vé số, chị không biết bị cáo dùng xe mô tô của chị để đi trộm cắp tài sản, nay chị có yêu cầu nhận lại xe.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Do bị cáo không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc H thừa nhận: Hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Bị hại anh Trà Văn D vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của anh D không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 17-12-2024, Nguyễn Quốc H điều khiển xe mô tô biển số 52K1-6502 từ Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để đi bán vé số. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đến trước nhà ông Trà Văn D thuộc ấp P, xã P1, thị xã T, tỉnh Tây Ninh H dừng xe mô tô phía ngoài rồi đi bộ vào trong sân, nhìn thấy có một điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số máy MT5X2LL/A, số sê ri: FFMXP462KPHF, màu vàng trên ghế nhựa, không thấy có người nên H nẩy sinh ý định trộm bán lấy tiền tiêu xài, sau đó H lén lút đi đến lấy điện thoại bỏ vào túi áo khoác màu đen bên trái rồi đi ra ngoài, lên xe mô tô bỏ chạy thì bị ông D phát hiện truy hô, cùng mọi người truy đuổi bắt giữ H cùng tang vật.

Căn cứ vào Bản kết luận định giá tài sản số 76/KL- HĐĐGTS ngày 18-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số máy MT5X2LL/A, số sê ri: FFMXP462KPHF trị giá 2.767.000 đồng.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập.

Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, không trông coi, quản lý tài sản của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo là người có sức khoẻ, có khả năng lao động, nhưng vì lòng tham, muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công lao động nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Chính vì vậy cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: ngày 18 tháng 3 năm 2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh xử phạt 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (bị cáo đã nộp phạt xong); ngày 14 tháng 10 năm 2023 bị Trưởng Công an thành phố T1, tỉnh Trà Vinh xử phạt 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (bị cáo đã nộp phạt xong).

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số máy MT5X2LL/A, số sê ri: FFMXP462KPHF là của anh D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả lại cho anh D và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe môtô biển số 52K1- 6502, nhãn hiệu Honda (đã qua sử dụng), loại xe Citi, màu sơn đỏ, số máy CT100E1529127, số khung: CT100F1 529031là của chị H3 mua của cậu ruột là ông Nguyễn Văn T1 cho bị cáo mượn để đi bán vé số, chị không biết bị cáo dùng xe mô tô của chị để đi trộm cắp tài sản, nên cần trả lại cho chị H3 là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động, nokia màu đen, loại máy 105, 4G, số IMEI 1: 353394480722057, số IMEI 2: 353394480722065, bên trong có gắn sim 0978005134( đã qua sử dụng); xét thấy không có liên quan đến vụ án nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen có chữ AIR FRANCE không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền Việt Nam 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng. Xét thấy không liên quan đến vụ án trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[7] Xét toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số máy MT5X2LL/A, số sê ri: FFMXP462KPHF là của anh D. anh D đã nhận lại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

  3. Xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    • Trả lại cho chị Nguyễn Thanh H3 01 xe môtô biển số 52K1 - 6502, nhãn hiệu Honda, loại xe Citi, màu sơn đỏ, số máy CT 100E1529127, số khung: CT 100F1529031 (đã qua sử dụng).
    • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, nokia màu đen, loại máy 105, 4G, số IMEI 1: 353394480722057, số IMEI 2: 353394480722065, bên trong có gắn sim 0978005134 (đã qua sử dụng);
    • Trả lại cho bị cáo số tiền Việt Nam 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng. nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác dài tay màu đen có chữ AIR FRANCE.
  4. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

    Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Báo cho bị cáo, chị H3 biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh D, vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Phòng KTNV.TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - Phân trại TGKV thị xã Trảng Bàng;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Phạm Văn Hảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc H- Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger