|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày: 01-04-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Nguyễn Văn Thành.
- + Ông Phạm Quốc Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tài - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 04 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Ninh Văn H, sinh ngày 13/04/1981, tại: huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Văn T, sinh năm 1950 và bà Lê Thị Q, sinh năm 1953; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; con: có 03 người, lớn sinh năm 2006 và nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/4/2013, bị Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 350.000 đồng, đã chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Ông Trần Xuân L1, sinh năm 1965 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Xuân L1: Bà Trần Thị Kim X, sinh năm 1966 (có mặt). Trú tại: thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Mai Ngọc Đ, sinh năm 1997 (vắng mặt). Trú tại: thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.
- Người làm chứng:
- + Ngô B, sinh năm 1949 (có mặt);
- + Ngô Đình T1, sinh năm 1968 (vắng mặt);
Đồng trú tại: thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, Ninh Văn H (sinh năm 1981; ở thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; có giấy phép lái xe ô hạng B2) trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển số 47H-026.36 (được H mua lại từ anh Mai Ngọc Đ (sinh năm 1997; ở thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk)) đi một mình, chở hàng từ thị xã A, tỉnh Gia Lai đến thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 19 giờ 11 phút cùng ngày, khi đến đoạn Quốc lộ A thuộc thôn H, xã B, huyện T; lúc này, trời đã tối thời tiết có mưa, không có điện đường; H điều khiển xe đi trên phần đường phía nam (bên phải theo chiều đi của mình), hướng từ tây sang đông với tốc độ khoảng 40-50km/h, trục bánh xe bên trái cách vạch kẻ tim đường khoảng 0,5m. Lúc này, H thấy phía trước cách đầu xe mình điều khiển khoảng 2,5 đến 3m có ông Trần Xuân L1 (sinh năm 1965; ở thôn H, xã B) đang đi bộ qua đường theo hướng bắc sang nam. Ông L1 đi bộ qua đường trong tình trạng đã uống rượu, bia nhưng đi chậm rãi, dáng đi ổn định và đã đi đến phần đường nam Quốc lộ A (phần đường bên phải theo hướng đi xe ô tô của H). H xử lý phanh xe lại nhưng không kịp, nên đã để đầu xe ô tô do mình điều khiển tông vào người ông L1, làm ông L1 văng về phía trước một đoạn rồi ngã nằm trên đường. Xe ô tô tiếp tục di chuyển theo quán tính một đoạn rồi dừng hẳn ở bên phải đường. H cùng người dân đưa ông L1 đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T nhưng ông L1 đã tử vong.
Dấu vết vụ tai nạn giao thông được mô tả tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và bản ảnh có trong hồ sơ vụ án
Tại Kết luận giám định tử thi số 343/KLGĐTT-PYBĐ ngày 07/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của ông Trần Xuân L1: Chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy.
Tang vật vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu giữ:
- - Xe ô tô tải biển số 47H-026.36, đã trả lại cho chủ sở hữu là Ninh Văn H.
- - 01 giấy chứng nhận kiểm định số: EB 0771164; 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 số 2993297.22; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, biển số 47H-026.369; đã trả lại cho Ninh Văn H.
- - 01 giấy phép lái xe hạng B2 của Ninh Văn H.
Về dân sự: Ninh Văn H đã bồi thường số tiền 110.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân Trần Xuân L1 và được gia đình nạn nhân bãi nại dân sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại Bản cáo trạng số 11/CT – VKSTS ngày 10/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Ninh Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ninh Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Ninh Văn H mức hình phạt từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo Ninh Văn H khai làm nghề tài xế lái xe có thu nhập bình quân hàng tháng là 6.000.000 đồng nên đề nghị khấu trừ thu nhập 10% hàng tháng của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị: Tuyên trả cho bị cáo Ninh Văn H 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2, đứng tên Ninh Văn H (bản gốc).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ninh Văn H phải nộp 200.000đ.
* Tại phiên tòa: Đại diện gia đình phía bị hại là bà Trần Thị Kim X tiếp tục bãi nại về dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H được hưởng án treo, để bị cáo có điều kiện cải tạo tại địa phương, làm ăn nuôi gia đình và các con.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để có điều kiện cải tạo tại địa phương, làm ăn nuôi con và gia đình; bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình phía bị hại xin được tha thứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:
Khoảng 19 giờ 11 phút ngày 31/10/2024, tại đoạn Quốc lộ A thuộc thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; Ninh Văn H (có giấy phép lái xe ô tô hạng B2) trực tiếp điều khiển xe ô tô biển số 47H-026.36 tham gia giao thông trong điều kiện trời có mưa, đường không có đèn điện chiếu sáng nhưng do thiếu chú ý quan sát nên đã để đầu xe ô tô do mình điều khiển tông vào phần thân người bên phải của ông Trần Xuân L1 đang đi bộ qua đường theo hướng từ bắc sang nam, hậu quả làm ông L1 chết. Hành vi của bị cáo Ninh Văn H đã vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Ninh Văn H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ.
[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm và nghiêm trọng, không những gây thiệt hại đến tính mạng của ông Trần Xuân L1 một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Bị cáo điều khiển xe ô tô tải tham gia giao thông không chú ý quan sát, dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm ông Trần Xuân L1 chết, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- [4.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- [4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
- [4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại với tổng số tiền 110.000.000 đồng; gia đình người bị hại đã có đơn bãi nại về dân sự, tại phiên tòa tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, để có điều kiện cải tạo và làm ăn nuôi gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Bị cáo Ninh Văn H có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. T2 trả cho bị cáo Ninh Văn H 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2, đứng tên Ninh Văn H (bản gốc).
[7] Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Ninh Văn H phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ninh Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Ninh Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh G nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Ninh Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về khấu trừ thu nhập:
Buộc bị cáo Ninh Văn H phải khấu trừ thu nhập hàng tháng 10% của 6.000.000 đồng = 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
- Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. T2 trả cho bị cáo Ninh Văn H 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2, đứng tên Ninh Văn H (bản gốc).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ninh Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo và người bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ khi nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Trọng |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ninh Văn H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
