Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 27 - 3 - 2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú.

Ông Hà Mạnh Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kiều Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Lê Thu H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.

Sinh ngày: 25 tháng 08 năm 1976 tại huyện Y, tỉnh Yên Bái.

Nơi thường trú: Ngô Thì N, Cầu Đ, P. H, Q. H, TP ..

Nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà B, đường M, P. M, Q. N, TP ..

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12

Bố đẻ: Lê Mạnh D, sinh năm 1943 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D1, sinh năm: 1943 (Đã chết).

Chồng: Nguyễn Ngọc, sinh năm: 1970 (Đã ly hôn).

Con: Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Gia đình bị cáo có 04 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 60/2018/HSST ngày 28/9/2018 của TAND thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt Lê Thu H 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 08/3/2022, H đã chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp tiền án phí và truy thu, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/8/2024, tạm giam từ ngày 17/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

2. Họ tên: Trần Duy H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 06 tháng 03 năm 1983 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi thường trú: Tổ I, Phố T, P. H, TX. P, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ở trước khi bị bắt: Phòng 1.7 D, Số nhà C, ngõ A, đường T, P. T, Q. C, TP ..

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12

Bố đẻ: Trần Duy H2, sinh năm 1955; Mẹ đẻ: Ngô Thị B, sinh năm: 1956.

Vợ: Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm: 1980, hiện ở tổ B, phường Q, TP ., tỉnh Hà Giang.

Con: Bị cáo có 01 con (Sinh năm 2004).

Gia đình bị cáo có 03 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án:

  • Tại bản án số 27/2017/HSST ngày 24/01/2017, bị Tòa án Nhân dân quận Hoàng Mai, TP . xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 29/9/2017, H1 đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 21/7/2020, H1 đã thi hành xong tiền án phí. Hiển chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại nên H1 chưa được xóa án tích.
  • Tại bản án số 66/2021/HSST ngày 20/4/2021, bị Tòa án Nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. xử phạt 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 20/7/2023, H1 đã chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp tiền án phí và truy thu, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22 ngày 24/10/2007 bị Công an huyện thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt 200.000 đồng về hành vi Đánh nhau.
  • Năm 2008, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, TX P, tỉnh Phú Thọ ra quyết định áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính giáo dục tại xã phường, thị trấn về hành vi Đánh nhau. Hiện Công an phường H không lưu trữ tài liệu về việc ra quyết định áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với H1.
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 26/02/2010, bị Công an phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt 200.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an phường H, thị xã P đã lập biên bản về việc H1 không có khả năng thi hành mức phạt tiền.
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18 ngày 25/5/2016, bị Công an phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an phường T, thị xã P đã lập biên bản về việc H1 không có khả năng thi hành mức phạt tiền.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/8/2024, tạm giam từ ngày 17/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

3. Họ tên: Trần Lưu V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 19 tháng 03 năm 1993 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Nơi thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: khu E, TT H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

Bố đẻ: Trần Văn T, sinh năm 1962; Mẹ đẻ: Lê Thị Mạnh T1, sinh năm 1969 (đã chết).

Vợ: Phùng Khánh L1, sinh năm: 1994 (Đã ly hôn)

Con: Bị cáo có 01 con (sinh năm 2018).

Gia đình bị cáo có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21 ngày 04/8/2011, bị Công an huyện H xử phạt 200.000 đồng về hành vi đánh nhau. V đã nộp tiền phạt ngày 05/8/2011.
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 ngày 07/12/2015, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P xử phạt 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. V đã nộp tiền phạt ngày 08/12/2015.
  • Tại bản án số 36/2019/HSST ngày 20/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt tiền 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Ngày 13/11/2019, V đã nộp tiền phạt và án phí, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/8/2024, tạm giam từ ngày 15/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

4. Họ tên: Nguyễn Thành P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 20 tháng 08 năm 1999 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Nơi thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: khu P, xã T (N là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12

Bố đẻ: Nguyễn Tiến B1, sinh năm 1966; Mẹ đẻ: Lê Thị Đ, sinh năm 1967.

Vợ, con: Chưa có.

Gia đình bị cáo có 05 chị, em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/8/2024, tạm giam từ ngày 15/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Dương Ngọc Hải V1, sinh năm 1984. (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu Q, xã Y (N là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
  2. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989. (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu N, xã T (N là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ.
  3. Anh Nguyễn Xuân V2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
  4. Anh Lê Cao C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 15 phút, ngày 10/08/2024, tại lề đường thuộc Khu P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an thị trấn C đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn vi phạm nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra người này khai nhận tên là Nguyễn Thành P, sinh năm 1999, trú tại khu P, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Phúc tự nguyện giao nộp 03 (Ba) gói nilon đều có đặc điểm màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. P khai nhận đây là 03 (Ba) gói ma túy đá, P tàng trữ nhằm mục đích để bán cho Dương Ngọc Hải V1, sinh năm 1984 ở Q, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ nhưng chưa kịp bán thì bị kiểm tra, phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, còn thu giữ của P: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy S7 edge, màu đen, có số Imei: 355300074107124 đã cũ; có lắp 01 thẻ sim và 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Ngày 10/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành P thu giữ 01 (một) Ống thủy tinh tròn đường kính 0,5cm, chiều dài 10cm, ống uốn cong.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thành P tự khai nhận 03 lần bán ma túy cho Dương Ngọc Hải V1 cụ thể như sau:

Lần 1:

Vào khoảng 14 giờ ngày 09/08/2024, V1 có sử dụng tài khoản Zalo tên là “V1”, nhắn tin vào tài khoản Zalo của P tên là “P” với nội dung hỏi mua ma túy đá của P 01 gói với giá 500.000 đồng, P đồng ý. Đến khoảng 20 phút sau P đi đến nhà V1, khi đi có cầm theo 01 gói nilon màu trắng có khuy bấm viền màu xanh, bên trong có ma túy đá không xác định khối lượng, P đi đến cuối dốc nghĩa trang liệt sỹ huyện C, thuộc khu P, TT C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, P gặp V1 và có đưa cho V1 gói ma túy trên, V1 trả số tiền 500.000 đồng tiền mặt cho P. V1 cầm ma túy đi về, số tiền bán ma túy được P đã tiêu sài cá nhân hết. Sau khi mua được ma túy V1 đã sử dụng hết cho bản thân.

Lần 2:

Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2024, V1 tiếp tục liên hệ qua Zalo như trên cho P và hỏi mua của P 1.000.000 đồng ma túy đá, V1 hẹn gặp nhau ở dốc gần nghĩa trang L huyện C để bán ma túy cho V1, P đồng ý. Sau đó, P lấy ma túy đá cho vào 01 gói nilon nhỏ màu trắng, có khuy bấm viền xanh không xác định khối lượng đi lên vị trí đã hẹn với V1 tại khu P, thị trấn C, huyện C P bán cho V1 gói ma túy đá đã chuẩn bị trước đó, P đưa gói ma túy cho V1, V1 trả cho P số tiền 1.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền này P đã tiêu sài cá nhân hết. Sau khi mua được ma túy V1 đã sử dụng hết.

Lần 3:

Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 10/08/2024, V1 tiếp tục liên lạc qua Zalo với P và hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá của P và bảo mang lên Khu P, thị trấn C, C, P đồng ý. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày khi P đang cất giữ 03 gói nilon màu trắng có khuy bấm viền màu xanh, bên trong có ma túy đá để ở trong túi quần bên phải đang mặc, đứng chờ V1 đến để bán ma túy. Tuy nhiên chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Công an huyện C phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Về nguồn gốc số ma túy mà Nguyễn Thành P bán cho Dương Ngọc Hải V1, P mua của Trần Duy H1; sinh năm 1983; trú tại T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Nơi ở hiện tại: Số nhà C, ngõ A, phường T, Q. C, TP .). Cùng ngày 10/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Duy H1. Kết quả phát hiện thu giữ: 04 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, bên trong đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 03 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu trắng, bên trong đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 (một) Bình thủy tinh, thân bình có nhiều hoa văn, có chiều cao 12,5cm, đáy bình được gắn với 01 vật hình trụ tròn có chiều cao 9,5cm; phần tiếp giáp với bình thủy tinh bằng kim loại màu vàng, đáy trụ tròn bằng kim loại màu đỏ. Phần miệng bình có gắn 01 vật không rõ hình có gắn 02 ống đầu ra (01 đầu ống ra có gắn 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 đầu có gắn ông ra có gắn ống hút bằng nhựa màu vàng có sọc đỏ.

Tại cơ quan điều tra Trần Duy H1 khai nhận số ma túy đá bán cho Nguyễn Thành P, số ma túy đá bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nơi ở của H1 là mua của Lê Thu H; sinh năm 1976; trú tại N, Cầu Đ, H, quận H, TP . (Nơi ở trước khi bị bắt: Phòng 503, số nhà B, đường M, phường M, Quận N, TP .). Cùng ngày 10/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thu H. Kết quả phát hiện thu giữ: 01 (một) gói nilon nhiều màu được cuốn bằng băng dính màu đen, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 (một) gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 (một) Bình thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn chiều khoảng 23cm, đường kính đáy bình khoảng 8cm, thân bình có nhiều hoa văn, nắp bình bằng nhựa bên trong nắp có màu vàng bên ngoài xung quanh nắp được bọc nhựa màu nâu, bên trên nắp có gắn 1 bình thủy tinh nhỏ có 02 đầu ống ra bên ngoài (Một đầu ống ra có gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; Một đầu ống ra có gắn 01 ống thủy tinh cong, một đầu ống thủy tinh có gắn 01 bình phễu được dẫn vào bên trong bình bằng ống hút màu trắng bằng nhựa).

Cùng ngày 10/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 876/QĐ-TCGĐ trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Thành P trong quá trình bắt quả tang và số ma túy thu giữ của Trần Duy H1, Lê Thu H khi tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở. Tại Kết luận giám định số 1116/KL-KTHS của Phòng K, Công an tỉnh P ngày 14/8/2024, kết luận:

  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 03 gói nilon được niêm phong trong bì giấy ký hiệu M1, mặt trước bì giấy có ghi “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thành P” gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,500 gam.
  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 07 gói nilon niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu M2, mặt trước bì giấy có ghi “Vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Duy H1” gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 13,548 gam.
  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 02 gói nilon niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu M3, mặt trước bì giấy có ghi “Vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thu H” gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 10,570 gam.
  • * Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Ngày 11/08/2024, Lê Thu H đã giao nộp: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại OPPO A2020 màu đen, có số Imei 1: 863901046475799, số Imei 2: 863901046475781; điện thoại có lắp 02 thẻ sim. Điện thoại đã cũ. Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiến hành thu giữ và niêm phong vật chứng.

Quá trình điều tra Lê Thu H khai nhận đã bán cho Trần Duy H1 06 lần như lời khai của Trần Duy H1 cụ thể như sau:

Lần thứ 1:

Vào khoảng giữa tháng 07/2024, H1 sử dụng số điện thoại 0983.789.xxx gọi điện thoại cho H có số điện thoại 0528.905.xxx và hỏi mua 2.500.000 đồng ma túy đá. H đồng ý bán cho H1 và hẹn đến phòng trọ của H tại Phòng 503, số nhà B, đường M, phường M, Quận N, TP . để lấy ma túy. Sau đó, H đúc ma túy đá vào đầy 01 túi nilon màu trắng, có khuy, kích thước 4x4 cm, H không tiến hành cân mà chỉ ước tính khối lượng ma túy bán cho H1. Buổi trưa ngày hôm sau, H1 đi một mình đến phòng trọ của H, tại đây H đưa cho H1 01 túi nilon đựng ma túy trên. H1 trả cho Hằng số tiền 2.500.000 đồng (trả bằng tiền mặt). Sau khi mua ma túy của H thì H1 đã sử dụng hết cho bản thân.

Lần thứ 2:

Khoảng 1 tuần sau, H1 tiếp tục gọi điện thoại cho H hỏi mua 01 gam ma túy đá với số tiền là 10.000.000 đồng và nhờ H mang đến phòng trọ cho H1 ở số nhà C, đường T, phường T, quận C, TP .. H đồng ý bán cho H1 và đúc ma túy đá vào 03 túi nilon có khuy có kích thước như nhau là 4x6 cm, sau đó H cho vào 01 vỏ bao thuốc là Sài G bạc rồi cho vào 01 túi nilon màu xanh, dùng băng dính dán kín và H ghi địa chỉ của H1 là số nhà C, Ngõ A, đường T, phường T, quận C, TP .. Do H không trực tiếp đi giao ma túy cho H1, nên H đã thuê 01 người xe ôm không biết tên, tuổi, địa chỉ vận chuyển gói hàng (Ma túy đá) trên đem giao cho H1 và đã trả tiền vận chuyển là 100.000 đồng cho người xe ôm trên. Lần này, H và H1 thỏa thuận cứ 1.000.000 đồng mua được 0,1 gam ma túy. Sau khi H1 nhận được ma túy đá H1 đã đem cân, thì thấy tổng khối lượng 03 gói là 0,8 gam ma túy đá, thiếu 0,2 gam ma túy đá, nên H1 đã gọi điện thoại cho H nói về việc này. Sau đó, H rủ Trần Lưu V, sinh năm 1993 trú tại khu E, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (là người ở cùng phòng trọ với H). V và H cùng đi xe ôm đến nơi ở của H1 tuy nhiên H không nói cho V biết là đi giao ma túy cho H1. Tại đây H đã đưa thêm 01 gói ma túy còn thiếu cho H1. Vài ngày sau, H1 qua phòng trọ của H và trả cho Hằng số tiền mua ma túy lần này là 10.000.000 đồng (trả bằng tiền mặt). Sau khi mua ma túy của H, H1 về đã sử dụng hết.

Lần thứ 3:

Sau khi bán ma túy lần thứ 2 cho anh H1 khoảng vài ngày, khoảng cuối tháng 7/2024 có một người đàn ông (H1 không biết tên tuổi địa chỉ và H1 không lưu số điện thoại) gọi điện cho H1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy, H1 liền gọi điện thoại cho H hỏi mua 01 gói ma túy đá 300.000 đồng. H đồng ý bán. H1 nói là có người đàn ông đi xe máy sẽ đến lấy và bảo H mang xuống đường trước nhà trọ của H1 để đưa cho người này. H đúc ma túy đá vào trong 01 túi nilon, có khuy, kích thước 1x1,5 cm, H không cân mà chỉ ước tính lượng ma túy cho vừa đủ giá tiền 300.000 đồng. Sau đó, H bỏ túi đựng ma túy đá trên vào 01 bao thuốc lá S bạc để ngụy trang. Lúc H gói ma túy thì Trần Lưu V không ở đó. Một lúc sau, V đi về phòng trọ của H, đồng thời lúc này H1 cũng gọi điện bảo mang ma túy chuyển cho một người đàn ông đi xe dream đang đứng ở cổng làng P thuộc phường M, quận N, TP . (cách nhà trọ của H khoảng 10 mét). H đưa cho V bao thuốc lá S bạc có ma túy chuẩn bị sẵn và bảo V mang xuống giao cho người đàn ông đi xe máy Dream, đứng ở cổng làng P. V biết bao thuốc lá H đưa là ma túy, V vẫn đồng ý và đi giao số ma túy trên cho người đàn ông đi xe máy Dream, đứng ở cổng làng P nhưng không thu tiền của người đàn ông này. Sau đó, H1 thanh toán tiền mua ma túy bằng hình thức chuyển tiền 300.000 đồng từ số tài khoản của H1 là 0983789730 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M) vào số tài khoản của H là 888298108 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (V3). H1 không nhớ người đàn ông mua ma túy của H1 là ai và chưa thu được tiền của người này.

Lần thứ 4:

Cách lần thứ 3 khoảng vài ngày, Nguyễn Thành P sử dụng số điện thoại 0969.598.xxx gọi vào số điện thoại 0983.789.xxx của H1 và hỏi mua của H1 500.000 đồng tiền ma túy đá. Do có việc bận H1 đang ở TP ., tỉnh Hà Giang, nên H1 có bảo P để H1 liên hệ. Sau đó, H1 tiếp tục gọi điện thoại cho H, H1 nói với H là H1 đang ở Hà Giang và bảo H bán cho H1 1 túi ma túy 300.000 đồng và mang xuống giao cho đứa em của H1 chờ ở đường dưới nhà trọ của H. H đồng ý. H gói ma túy đá vào 01 túi nilon có khuy, có kích thước 1x1,5 cm và cho vào 01 bao thuốc lá S, H không cân khối lượng. Lúc H gói ma túy thì V có ở phòng và nhìn thấy việc H gói ma túy. H đưa gói ma túy trên cho V để V mang bao thuốc lá có chứa ma túy đá trên xuống nhà giao cho P. Số ma túy trên P đã sử dụng hết cho bản thân. Sau đó, P chuyển khoản cho H1 500.000 đồng vào số tài khoản của H1 là 0983789730 mở tại M. Nhận được tiền H1 gọi điện thoại cho H không được nên H1 gọi điện thoại cho V vào số điện thoại là 0345.190.xxx và H1 có sử dụng tài khoản trên chuyển số tiền 300.000 đồng mua ma túy vào số tài khoản 0345190393 của V mở tại M. Sau khi P mua được ma túy đã sử dụng hết.

Lần thứ 5:

Ngày 02/8/2024, H1 gọi điện thoại cho H hỏi mua 12.500.000 đồng tiền ma túy đá và hẹn H1 sẽ qua lấy. H đồng ý bán và đúc ma túy đá vào 03 túi nilon có khuy, kích thước 4x6 cm giống nhau và để trong 01 bao thuốc lá S bạc, H không cân khối lượng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi H1 đến chờ ở dưới khu nhà trọ của H, do cửa nhà trọ khóa nên H1 bảo H mang ma túy xuống cho H1. Sau đó, H nhờ V mang bao thuốc lá có ma túy đá xuống giao cho H1, V đồng ý và bao thuốc lá Sài G bạc có chứa ma túy đá giao cho H1. Sau khi giao ma túy xong V đi lên phòng và bảo V với H đã giao thành công ma túy cho H1. Một vài ngày sau, H1 đến nhà H thanh toán cho Hằng số tiền 12.500.000 đồng tiền mặt.

Sau khi H1 mua được ma túy của H. Nguyễn Thành P có hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá của H1, H1 đồng ý và bảo P đến phòng trọ của H1 ở phòng trọ số C, ngõ A, đường T, phường T, Cầu G, Hà Nội, tại đây H1 bán cho P 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm, bên trong có ma túy đá, P trả H1 500.000đ tiền mặt. Số ma túy đá này là của H1 mua lần thứ 5 của H. Sau đó, P ra về. Số ma túy còn lại H1 đã sử dụng hết.

Lần thứ 6:

Vào ngày 07/8/2024, H1 tiếp tục gọi điện thoại cho H hỏi mua 12.500.000 đồng tiền ma túy đá. H đồng ý bán, H1 hẹn H là H1 sẽ sang phòng trọ của H lấy trực tiếp. H đúc ma túy đá vào 05 túi nilon màu trắng có khuy, kích thước 4x4 cm, H không cân khối lượng. Sau đó, H đúc các gói ma túy đá trên vào 01 vỏ bao thuốc lá S bạc để ở phòng trọ chờ khi nào H1 qua thì giao. Lúc này V đang ngủ nên không biết việc H và H1 liên lạc với nhau và không biết việc H gói ma túy. Sáng sớm cùng ngày H1 đến nhà trọ của H và tại đây H đưa bao thuốc lá Sài Gòn bên trong chứa ma túy đá cho V, để V giao cho H1 (V biết bên trong bao thuốc lá có chứa ma túy đá). Đến trưa ngày 10/8/2024, H1 qua phòng trọ của H, tại đây H1 trả cho Hằng số tiền 12.500.000 đồng gồm chuyển khoản bằng số tài khoản đã nêu trên: 1 lần 10.000.000 đồng, 1 lần 2.000.000 đồng và trả bằng tiền mặt là 500.000 đồng.

Sau khi mua được ma túy lần này, H1 đã sử dụng một ít và vào đầu giờ chiều ngày 08/8/2024, H1 đang ở phòng trọ của H1 thì P có gọi điện thoại và hỏi H1 có ở nhà không để P đến mua ma túy, H1 đồng ý. Sau đó P đến hỏi mua 3.000.000 đồng tiền ma túy đá và bảo H1 trừ vào tiền mà trước đó P bán xe máy cho H1 (Do trước đó ngày 02/8/2024, H1 có mua của P 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS: 19N1-5102 với giá 13.000.000 đồng, H1 đã thanh toán cho P số tiền 6.000.000 đồng tiền mặt, còn nợ của P 7.000.000 đồng, P đồng ý và đưa xe máy cho H1 sử dụng, việc mua bán không có giấy tờ gì). H1 đồng ý và H1 có bán cho P 01 túi ma túy đá, có đặc điểm gói nilon màu trắng một đầu có khuy bấm, bên trong có ma túy đá, rồi P ra về. Lượng ma túy này H1 không cân khối lượng. Số ma túy đá còn lại là 07 túi ma túy nhỏ H1 đã cất giấu ở phòng trọ và đã bị Cơ quan CSĐT Công an huyện C thu giữ khi khám xét khẩn cấp.

Về nguồn gốc số ma túy mà Lê Thu H bán trái phép cho Trần Duy H1, H mua của người đàn ông D2 ở phố T, Q. T, TP . (H không biết họ và địa chỉ cụ thể) và biết D2 có bán ma túy, H đã sử dụng số điện thoại 0528.905.xxx liên hệ với D2 có số điện thoại là 0336.161.xxx để hỏi mua ma túy đá của D2. D2 đồng ý bán và H đã mua ma túy đá của D2 3 lần cụ thể như sau:

Lần thứ 1:

Vào giữa tháng 07/2024, H gọi điện thoại cho D2 và hỏi mua của D2 10.000.000 đồng tiền ma túy đá. Sau đó H trực tiếp gặp D2 ở quán nước gần hồ T, Q. T, TP ., D2 giao cho H 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm, bên trong có đựng ma túy đá. H đã thanh toán cho D2 bằng tiền mặt số tiền là 10.000.000 đồng.

Lần thứ 2:

Vào khoảng cuối tháng 07/2024, H liên lạc với D2 và hỏi mua 11.000.000 đồng tiền ma túy đá. D2 đồng ý bán và hẹn gặp ở quán nước ở gần hồ T, Q. T, TP .. Do có việc bận không đi được H nhờ Trần Lưu V đến địa chỉ đã hẹn gặp D2 để lấy ma túy. Lúc đi H có sử dụng số tài khoản của H mở tại Ngân hàng V3 là 888298108 chuyển vào tài khoản của V mở tại Ngân hàng M có số tài khoản là 0345190393 số tiền 11.000.000 đồng, để V thanh toán tiền mua ma túy cho D2. Sau đó, V đến gặp D2 và V sử dụng tài khoản trên chuyển tiền cho D2 vào tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A) mang tên BUI MINH DUONG, nhưng D2 không giao ma túy cho V và sẽ lên giao trực tiếp cho H vì D2 không giao ma túy cho người lạ. V đi về đến nhà thì khoảng hơn 1 tiếng sau, D2 đến cổng nhà trọ của H tại Số nhà B, đường M, phường M, quận N, TP .. Tại đây D2 đã giao cho H 01 túi nilon màu trắng bên trong túi đựng 04 túi nilon nhỏ, có khuy, viền xanh, bên trong có chứa ma túy đá. Lúc này V không biết việc H đi nhận ma túy từ D2.

Lần thứ 3:

Vào đầu tháng 8/2024, H tiếp tục gọi điện thoại cho D2 và hỏi mua 15.000.000 đồng tiền ma túy đá. D2 đồng ý bán và hẹn giao ma túy ở Ngã tư Sở thuộc quận T, TP . để giao nhận ma túy. Buổi trưa cùng ngày, H đi một mình đến Ngã tư Sở. Tại đây, H gặp D2 ở quán nước bên đường, D2 giao cho H 01 túi giấy, có hai quai, trong túi có để 06 túi nilon nhỏ màu trắng, có khuy, bên trong đựng ma túy đá. H đưa cho D2 số tiền là 15.000.000 đồng tiền mặt. Lần mua ma túy này, V không biết việc H mua ma túy của D2.

Ngày 11/8/2024 và ngày 12/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã đề nghị Trung tâm y tế huyện C xác định tình trạng sử dụng ma tuý của Lê Thu H, Trần Duy H1, Nguyễn Thành P, Dương Ngọc Hải V1 và Trần Lưu V. Kết quả: Lê Thu H, Trần Duy H1, Nguyễn Thành P, Dương Ngọc Hải V1 và Trần Lưu Vũ dương T2 với ma túy: MET (ma túy đá); AMP (ma túy tổng hợp).

Quá trình điều tra xác định tài khoản tài khoản BUI MINH DUONG, số tài khoản 242735557 mở tại A mà V chuyển tiền để mua ma túy đá vào ngày 29/07/2024 có thông tin chủ tài khoản là Bùi Minh D2, sinh ngày: 07/11/1979; Địa chỉ thường trú: T, xã T, huyện T, TP .; Số CCCD: [...]; cấp ngày 14/12/2018. Hiện Bùi Minh D2 đang là bị can của Cơ quan CSĐT Công an T4 và D2 đang bị áp dụng biện pháp tạm giam. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an T4 làm việc Bùi Minh D2, qua làm việc D2 khai không sử dụng số tài khoản trên, nhưng có một lần D2 có đăng ký 1 tài khoản Ngân hàng ACB qua mạng để lấy tài khoản đẹp, nhưng từ đó đến nay D2 không được lấy tài khoản, cũng như không biết có đăng ký được tài khoản đó hay không. Bản thân D2 cũng không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0336.161.xxx, qua xác minh tại nhà mạng số điện thoại 0336.161.xxx đăng ký tên Trần Đức T3, Sinh ngày: 10/11/1987; Địa chỉ: Xóm C, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Số Căn cước công dân: [...]; Cấp ngày: 02/10/2021, Nơi cấp: Cục C3 về TTXH. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An xác minh, hỏi lời khai Trần Đức T3. Qua xác ninh tại địa phương xác định Trần Đức T3 không có mặt ở địa phương không biết đi đâu làm gì, ở đâu.

Bản thân Lê Thu H xác định D2 có đặc điểm: Khoảng 40 tuổi, cao khoảng 160cm, trên mặt có 01 nốt ruồi kích thước khoảng 0,2cm mầu đen ở má trái, nhưng trước đây H không nhìn thấy khuôn mặt của D2 nên không nhận dạng được D2. Ngày 03/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành cho Lê Thu H nhận dạng ảnh của Bùi Minh D2 nhưng H không nhận ra được đâu là D2 đã bán ma túy cho bản thân, đồng thời thực tế Bùi Minh D2 không có nốt ruồi như H miêu tả. Đối với Trần Lưu V do gặp D2 trong thời gian ngắn và D2 đeo khẩu trang, đội mũ, đeo kính nên không thể nhận dạng được D2 là ai.

Đối với khối lượng ma túy 10,570 gam ma túy Lê Thu H tàng trữ nhằm mục đích để bán. Tại cơ quan điều tra Trần Lưu V khai nhận không biết số ma túy trên H tàng trữ nhằm mục đích để bán.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp nhau, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức liên lạc, loại ma túy và giá trị tiền mua bán ma túy, và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 17/CT-VKSCK ngày 14/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

  • *Áp dụng: Điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thu H.
  • *Áp dụng: Điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Duy H1.
  • *Áp dụng: Điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Lưu V.
  • *Áp dung: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành P.
  • *Tuyên bố bị cáo Lê Thu H, Trần Duy H1, Trần Lưu V, Nguyễn Thành P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • * Về hình phạt:
    • -Xử phạt bị cáo Lê Thu H từ 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 13 (Mươi ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11/8/2024.
    • -Xử phạt bị cáo Trần Duy H1 từ 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11/8/2024.
    • -Xử phạt bị cáo Trần Lưu V từ 08 (T) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (C1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 12/8/2024.
    • -Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P từ 07 (Bẩy) năm tù đến 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 10/8/2024.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lê Thu H, Trần Duy H1, Trần Lưu V, Nguyễn Thành P.
  • *Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Bì ký hiệu M1, mặt trước bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thành P, trả lại: 0,419 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại mép dán.

+ 01 (một) Bì ký hiệu M2, mặt trước bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi khám xét Trần Duy H1, trả lại: 10,760 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại mép dán;

+ 01 (một) Bì ký hiệu M3, mặt trước bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi khám xét Lê Thu H, trả lại: 8,665 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại mép dán;

+ 01 (một) Bình thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn chiều dài 23cm, đường kính đáy bình 8cm, thân bình có nhiều hoa văn, nắp bình bằng nhựa bên trong nắp có màu vàng, bên ngoài xung quanh nắp được bọc nhựa màu nâu, bên trên nắp có gắn 1 bình thủy tinh nhỏ có 02 đầu ống ra bên ngoài (Một đầu ống ra có gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; Một đầu ống ra có gắn 01 ống thủy tinh cong, một đầu ống thủy tinh có gắn 01 bình phễu được dẫn vào bên trong bình bằng ống hút màu trắng bằng nhựa).

+01 (một) Bình thủy tinh, thân bình có nhiều hoa văn, có chiều cao khoảng 12,5cm, đáy bình được gắn với 01 vật hình trụ tròn có chiều cao khoảng 9,5cm; phần tiếp giáp với bình thủy tinh bằng kim loại màu vàng, đáy trụ tròn bằng kim loại màu đỏ. Phần miệng bình có gắn 01 vật không rõ hình có gắn 02 ống đầu ra (01 đầu ống ra có gắn 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 đầu có gắn ông ra có gắn ống hút bằng nhựa màu vàng có sọc đỏ.

+ 01 (một) Ống thủy tinh tròn đường kính khoảng 0,5cm, chiều dài khoảng 10cm, ống uốn cong.

+ 04 sim số: 0983789730; 0528905505; 0969598608; 0345190393.

Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A2020 màu đen, có số Imei 1: 863901046475799, số Imei 2: 863901046475781;

+ 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A05S, mặt trước màu đen, có số Imei 1: 357533647254407; số Imei 2: 358833707254407;

+ 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy S7 edge, màu đen, có số Imei: 355300074107124;

Trả lại cho:

+ Trần Duy H1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 19N1-5102; Số máy: HAO8E – 113490; Số khung: RLHHA08048Y113404 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Trần Lưu V: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, có số Imei: 353013094198518, điện thoại lắp 01 thẻ sim nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Nguyễn Xuân V2: 01 (một) Đầu ghi hình camera, nhãn hiệu HIKVISION, có dán tem thể hiện Model: DS-7204HQHI-K1.

+ Nguyễn Thành P: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).

- Xác nhận ngày 11/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý tài sản trả lại cho anh Lê Cao C 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, mặt trước màu trắng, mặt sau màu xám, số Imei: 35333807070574 (điện thoại đã cũ).

- Về truy thu:

Truy thu của Lê Thu H 38.100.000 đồng (Ba mươi tám triệu một trăm nghìn đồng); Truy thu của Trần Duy H1 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); Truy thu của Nguyễn Thành P 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

* Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thu H, Trần Duy H1, Trần Lưu V, Nguyễn Thành P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

-VKSND huyện Cẩm Khê;

-VKSND tỉnh Phú Thọ;

-UBND xã nơi B/c cư trú;

-CQCSĐT CA tỉnh Phú Thọ;

-THADS huyện Cẩm khê;

-THAHS;

- Trại TGCA tỉnh Phú Thọ;

-Người tham gia tố tụng;

-Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thu Hằng và đp mua bán TP CMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger