|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày 25-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Công Hạ
Bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Đình H - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Vũ Ngọc H1, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1997, tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T (N là Tổ dân phố Đ, phường M, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T (N là Tổ dân phố Q, phường M, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn D (đã chết) và bà Bùi Thị T; có chồng là anh Nguyễn Văn H2 (đã chết) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 13-5-2024; tạm giam ngày 21-5-2024; có mặt.
- Nguyễn Việt A, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2004, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện T (N là Tổ dân phố A, phường Q, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 và bà Đỗ Thị D1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 03-6-2024; tạm giam ngày 06-6-2024; có mặt.
- Bị hại: Chị Mai Thị S, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Lý Quốc U, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Lê Văn T1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12-5-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (Nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T), thành phố Hải Phòng nhận được đơn của chị Mai Thị S tố giác Vũ Ngọc H1 là chủ quán M1 thuộc Thôn A, xã N, huyện T (N là Tổ dân phố A, phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng cùng một số đối tượng có hành vi đe dọa, đánh đập và chiếm đoạt của chị S số tiền 47.000.000 đồng. Tiến hành triệu tập Vũ Ngọc H1 lên làm việc, H1 khai đã cùng Nguyễn Việt A, Mạc Văn H4 và Vũ Văn L chiếm đoạt của chị S số tiền 47.000.000 đồng. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ một số tờ giấy lau (loại giấy ăn) màu trắng có bám dính tạp chất màu nâu đỏ (nghi máu) tại phòng 405 quán M1; tạm giữ của H1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám. Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Vũ Ngọc H1 tại Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T (N là tổ dân phố Q, phường M, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ: Tại ngăn tủ ngoài cùng phía trên tủ quần áo trẻ em trong phòng ngủ của H1 01 túi nilon màu trắng kích thước (5x4)cm chứa 02 viên nén (01 viên nén kích thước (1x1,4x0,3)cm, 01 mảnh viên nén kích thước (0,8x0,5x0x3)cm) và 01 túi nilon kích thước (7x6)cm chứa chất bột màu trắng (đều nghi chất ma túy).
Tại Kết luận giám định số 608/KL-KTHS ngày 21-5-2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Viên nén và mảnh viên nén thu giữ tại nơi ở của Vũ Ngọc H1 là ma túy, có khối lượng 0,73 gam, loại MDMA; chất bột màu trắng thu giữ tại nơi ở của Vũ Ngọc H1 là ma túy, có khối lượng 0,55 gam, loại Ketamine.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 796/2024/KLTgTHS-TTPYHP ngày 04-11-2024 của Trung tâm P, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Mai Thị S là 00%, (trong đó, thương tích do sưng đau, bầm tím vùng mặt, vùng trán, cổ trái, vùng vai hai bên, cổ tay phải, khuỷu tay trái, vùng lưng và gối trái, không tổn thương xương hộp sọ, xương cột sống thắt lưng, xương chính mũi trên phim chụp Xquang, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể; tổn thương bầm tím mắt trái và dưới mắt trái, sưng đỏ củng mạc mắt, bầm tím mắt phải, qua giám định hồ sơ không đánh giá được có ảnh hưởng thị lực hay không nên không căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể). Các thương tích có đặc điểm do vật tày (tay chân cũng là vật tày) tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định số 1898/KL-KTHS ngày 10-6-2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Mẫu giấy ăn bám dính tạp chất màu nâu đỏ thu giữ tại phòng 405 quán M1 có máu người, là máu của Mai Thị S.
Ngày 03-6-2024, Nguyễn Việt A đến Cơ quan điều tra đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Ngọc H1 và Nguyễn Việt A đã khai nhận:
Về hành vi cướp tài sản của Vũ Ngọc H1 và đồng phạm: H1 là chủ quan quán M1. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10-5-2024, khi H1 đang ở quán thì Vũ Đình Tiến A1 (thường gọi là T2), sinh năm 1998, trú tại: Thôn G, xã M, huyện T (N là Thôn G, xã B, thành phố T), thành phố Hải Phòng đến chơi. Tại đây, Tiến A1 nhờ H1 gọi 02 nhân viên nữ đến quán để cùng sử dụng ma túy, H1 đồng ý. H1 gọi điện qua mạng xã hội Facebook cho người có tên là “Hiệp Phạm” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ gọi giúp 02 nhân viên nữ. Người này gửi cho H1 tài khoản Zalo tên “My M Nđ” của chị Mai Thị S (T3 gọi là L) để H1 liên hệ và chỉ đường. Sau khi liên hệ, chị S đồng ý đến quán của H1 để sử dụng chất ma túy với khách. Khoảng 21 giờ cùng ngày, chị S đến quán M1 được một lúc thì Nguyễn Thành C, sinh năm 1989; trú tại: Thôn E, xã C, huyện T (N là Thôn E Chính M, xã Q, thành phố T), thành phố Hải Phòng và Đỗ Thị T4 (thường gọi là T5), sinh năm 1993; trú tại: Tổ B, B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh đến quán. Lúc này, C và Tiến A1 làm quen và nói chuyện với nhau. Sau đó, H1 dẫn chị S, chị T4 lên phòng 401 gặp C và Tiến A1. Tại đây, C và Tiến A1 mỗi người lấy trong người ra một túi nilon chứa chất bột màu trắng để lên đĩa sứ. Chị S lấy chất bột trong túi nilon đổ ra đĩa đảo, kẻ thành bốn đường để C, Tiến A1, S và T4 mỗi người sử dụng một đường, hình thức sử dụng là dùng tờ tiền cuốn lại để hít trực tiếp qua đường mũi (riêng H1 không sử dụng), sau đó cả nhóm ngủ luôn tại phòng. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 11-5-2024, chị S và chị T4 yêu cầu Tiến A1 trả số tiền 17.000.000 đồng (gồm 16.000.000 đồng tiền công của hai nhân viên và 1.000.000 đồng tiền taxi). Tiến A1 đồng ý chuyển tiền qua tài khoản cho chị S số tiền 17.000.000 đồng. Chị S và chị T4 tự chia tiền cho nhau rồi đi về. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, C ngủ dậy không thấy hai túi nilon chứa ma túy đâu nên gọi H1 cùng Tiến A1 kiểm tra nhưng không thấy, H1 kiểm tra túi xách của mình thì thấy khoá bị mở, bị mất số tiền khoảng 4.000.000 đồng. H1, C, Tiến A1 nghi ngờ cho chị S và chị T4 lấy ma túy và tiền. Sau đó, C, Tiến A1 đi về. Chiều cùng ngày, H1 gọi điện cho chị T4, chị S nhưng chỉ liên lạc được với chị S. Huyền nhắn tin bảo chị S tối cùng ngày đến quán M1 để tiếp khách, chị S đồng ý. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 11-5-2024, chị S đi taxi đến quán M1, H1 bảo chị S ngồi chờ. Cùng thời gian này, Nguyễn Việt A, Vũ Văn L, Mạc Văn H4 và người phụ nữ tên V (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang ngồi chơi tại nhà trọ của H4 thuộc xã K, huyện T (N là xã N, thành phố T), thành phố Hải Phòng thì H4 đi ra ngoài nghe điện thoại, sau đó H4 bảo cả nhóm đi xuống xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng có việc. Trên đường đi, H4 nói với cả nhóm “có con nhân viên nó lấy trộm tiền của chị H1 ở quán M1 xã N, anh em mình xuống để xử lý”. Khoảng 00 giờ ngày 12-5-2024, H1 điện thoại cho anh Lý Quốc U, sinh năm 2004. Nơi thường trú: Thôn A, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn F, xã K, huyện T (N là Thôn F K, xã N, thành phố T), thành phố Hải Phòng là quản lý quán Massage khác của H1 tại xã A, huyện T (N là phường A, thành phố T), thành phố Hải Phòng đến trông quán. Một lúc sau, Vũ Văn L, Nguyễn Việt A, Mạc Văn H4 và V đến quán. H1 nói với Việt A, H4 và L: Hôm qua chị bị mất tiền, chị nghi cho con nhân viên lấy trộm, bây giờ con đấy đang ở trên phòng, mấy anh em lên hỏi xem nó có khai và lấy trộm không. H1 nhờ V ở dưới tầng một trông quán, còn H1, V, H4, chị S và anh U đi lên phòng 405. Tại đây, H1 đe dọa, bắt chị S phải nhận đã lấy trộm ma túy và tiền, ép chị S phải trả tiền. Chị S không nhận nên bị H1 túm tóc ngửa mặt ra phía sau để nói chuyện, Việt A đứng cạnh lao vào đấm, tát liên tiếp 3-4 cái vào vùng mặt, dùng chân đá 01 cái vào người chị S làm chị S bị chảy máu mũi, bầm tím mắt trái. Thấy vậy, anh U vào can ngăn, kéo Việt A ra và lấy giấy vệ sinh lau máu cho chị S. Sợ bị đánh tiếp nên chị S đã nhận lấy trộm ma túy và tiền. Lúc này, H1 bắt chị S phải trả các khoản tiền như sau: Khoản thứ nhất, H1 bắt chị S phải chuyển vào tài khoản của H1 17.000.000 đồng vì dám lấy tiền công của C và Tiến A1 đắt. Chị S xin trả một nửa vì nửa còn lại là của chị T4 nhưng H1 không đồng ý vì không liên lạc được với chị T4 nên bắt chị S phải trả cả. Chị S sợ hãi đã chuyển số tiền 17.000.000 đồng từ tài khoản của mình sang tài khoản của H1 tại Ngân hàng T6. Khoản thứ hai, H1 hỏi về việc bị lấy trộm ma túy thì chị S không thừa nhận. H1 gọi điện thoại cho Nguyễn Thành C nói lại sự việc thì C nói bắt S trả lại ma túy, nếu không sẽ xuống đánh rồi tắt máy. Lúc này, Vũ Văn L đe dọa với chị S “mày có nhận không, không thì anh tao xuống xử mày”. Chị S sợ hãi, xin H1 đừng đánh và bảo sẽ trả ma túy thì H1 bảo không cần. H1 yêu cầu chị S chuyển 15.000.000 để thay số ma túy bị mất, sợ bị đánh nên chị S đã chuyển tiền cho H1. Khoản thứ ba, H1 tiếp tục bắt chị S phải trả số tiền 4.000.000 đồng bị mất và tiền bồi thường danh dự cho quán khi quán bị mất trộm thì chị S nói hết tiền. Mạc Văn H4 đứng cạnh tát vào mặt chị S và nói “mày còn hơn 16.000.000 đồng kia thây”, chị S xin H1 để lại 1.000.000 đồng để bắt xe đi về. H1 yêu cầu chị S mở mật khẩu tài khoản ngân hàng trên điện thoại, rồi tự dùng điện thoại của chị S chuyển 15.000.000 đồng từ tài khoản của chị S sang tài khoản của H1. Sau khi chiếm đoạt được tổng số tiền 47.000.000 đồng của chị S, H1 bảo U và L đưa cho chị S khẩu trang và gọi xe taxi cho chị S về.
Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Vũ Ngọc H1: Khoảng tháng 4-2024, khi đang ở quán M1 thì H1 nhặt được 01 túi nilon màu trắng chứa 02 viên nén và 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng tại sảnh ra vào tầng 01, H1 biết là ma túy tổng hợp và Ketamine nên đã mang về nhà cất giấu với mục đích để sử dụng dần.
Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 21-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị can Vũ Ngọc H1 về tội Cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố bị can Nguyễn Việt A về tội Cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phiên tòa, bị hại chị Mai Thị S vắng mặt nhưng tại Cơ quan điều tra, chị S khai: Tài sản của chị S bị chiếm đoạt là 47.000.000 đồng. Chị S đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không còn yêu cầu, đề nghị gì khác về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Ngọc H1 về tội Cướp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; truy tố đối với bị cáo Nguyễn Việt A về tội Cướp tài sản như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm i khoản 1 Điều 249, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H1 mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản và mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Vũ Ngọc H1 phải chấp hành hình phạt chung từ 06 năm đến 07 năm 06 tháng tù; căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt A mức án từ 04 năm đến 05 năm tù. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc H1 còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 608MT/PC09 và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong (bên trong chứa mảnh giấy còn lại sau giám định). Trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Mỗi bị cáo (Vũ Ngọc H1 và Nguyễn Việt A) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thàn phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Khoảng 00 giờ ngày 12-5-2024, tại Phòng 405 quán M1 thuộc Thôn A, xã N, huyện T (N là Tổ dân phố A, phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng, Vũ Ngọc H1 cùng Nguyễn Việt A, Mạc Văn H4 và Vũ Văn L đe dọa bắt chị Mai Thị S phải nhận đã lấy trộm ma tuý của Nguyễn Thành C và tiền của Vũ Ngọc H1, ép chị S phải trả tiền cho H1. Chị S không nhận nên H1 đã sử dụng tay túm giật tóc chị S; Nguyễn Việt A sử dụng tay đấm, tát nhiều cái vào mặt, dùng chân đá 01 cái vào người chị S; Mạc Văn H4 dùng tay tát 01 cái vào mặt chị S buộc chị S phải đưa cho H1 số tiền 47.000.000 đồng. Như vậy, Vũ Ngọc H1, Nguyễn Việt A, Mạc Văn H4 và Vũ Văn L đã dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho chị S lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản của chị S là số tiền 47.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 12-5-2024, Vũ Ngọc H1 còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,73 gam ma túy MDMA và 0,55 gam ma túy Ketamine tại nhà ở của H1 thuộc Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T (N là Tổ dân phố Q, phường M, thành phố T), thành phố Hải Phòng nhằm mục đích để sử dụng mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc H1 đã cấu thành tội Cướp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 và Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Việt A đã cấu thành tội Cướp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý: Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, thì tổng khối lượng hai chất ma tuý đã thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc H1 tính theo tỉ lệ % so với mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (0,73 gam MDMA x 100 : 5) + ( 0,55 gam Ketamine x 100 : 20) = 17,35% (thuộc trường hợp dưới 100%). Như vậy, tổng khối lượng của hai chất ma tuý thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc H1 không thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên bị cáo Vũ Ngọc H1 phạm điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi Cướp tài sản của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội và gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Vũ Ngọc H1 không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
[6] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo về tội Cướp tài sản: Thấy rằng, nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo Cướp tài sản của bị hại là do bị cáo Vũ Ngọc H1 nghi ngờ chị Mai Thị S trộm cắp ma tuý của Nguyễn Thành C và tiền của Vũ Ngọc H1, nên H1 đã rủ Nguyễn Việt A, Mạc Văn H4 và Vũ Văn L dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tài sản của chị S nên cần đánh giá vai trò đồng phạm của bị cáo Vũ Ngọc H1 cao hơn bị cáo Nguyễn Việt A.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Việt A đã ra đầu thú và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần coi đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác đối với các bị cáo.
[9] Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly có thời hạn đối với các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo Vũ Ngọc H1 còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[11] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc H1 còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 608MT/PC09 và vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma tuý; 01 bì giấy niêm phong (bên trong chứa mảnh giấy còn lại sau giám định) là vật liên quan đến tội Cướp tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của bị cáo H1 là vật liên quan đến việc H1 gọi điện cho chị S đến Phòng 405 quán M1 sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Vũ Đình Tiến A1, Nguyễn Thành C và Đỗ Thị T4. Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau về hành vi Chứa chấp xử dụng trái phép chất ma tuý của Vũ Ngọc H1 và hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Vũ Đình Tiến A1 và Nguyễn Thành C, nên cần trả chiếc điện thoại này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.
[12] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Vũ Ngọc H1 đã trả lại cho bị hại là chị Mai Thị S số tiền 47.000.000 đồng và bồi thường cho chị S số tiền 130.000.000 đồng; gia đình bị cáo Nguyễn Việt A đã bồi thường cho chị S số tiền 10.000.000 đồng. Chị S đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không còn yêu cầu, đề nghị gì khác về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét.
[13] Đối với các bị can Mạc Văn H4 và Vũ Văn L hiện nay đang bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, tách vụ án hình sự đối với bị can Mạc Văn H4 và Vũ Văn L, khi bắt được sẽ xử lý sau.
[14] Đối với bị cáo Vũ Ngọc H1 có hành vi Chứa chấp xử dụng trái phép chất ma tuý; Vũ Đình Tiến A1 và Nguyễn Thành C có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán M1. Quá trình điều tra, các đối tượng Vũ Đình Tiến A1 và Nguyễn Thành C vắng mặt tại địa phương, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xử lý các đối tượng nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
[15] Đối với anh Lý Quốc U có mặt tại thời điểm Vũ Ngọc H1, Nguyễn Việt A, Mạc Văn H4 và Vũ Văn L chiếm đoạt tài sản của chị Mai Thị S nhưng không được bàn bạc, không tham gia cùng và khi các đối tượng đe doạ, đánh chị Mai Thị S thì anh Lý Quốc U đã đã can ngăn nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[16] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm i khoản 1 Điều 249, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc H1 phạm tội Cướp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý;
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H1 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội Cướp tài sản và 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Vũ Ngọc H1 phải chấp hành hình phạt chung là 06 (S) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13-5-2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội Cướp tài sản;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt A 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03-6-2024.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc H1 còn lại sau giám định trong 01 bì giấy được niêm phong số 608MT/PC09 và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong (bên trong chứa mảnh giấy còn lại sau giám định). Trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-01-2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo (Vũ Ngọc H1 và Nguyễn Việt A) phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Hữu Hường |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (cướp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo vũ ngọc huyền và đồng bọn chiếm đoạt tài sản
