Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 25-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đặng Văn Chỉnh;
  • Ông Phạm Kim An.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Tấn S, sinh ngày: 03/03/2003, nơi sinh: Xóm G, xã T, huyện X, Nam Định; nơi ở hiện tại: Xóm D, xã T, huyện X, Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và con bà Phạm Thị H1; bị cáo có vợ là Trần Minh Á sinh năm 2004, bị cáo có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 17/01/2025 đến ngày 26/01/2025 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.

- Bị hại: Bà Trịnh Thị X, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. “vắng mặt”

- Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Văn H; có mặt
  2. Ông Mai Văn K; vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Tấn S, sinh năm: 2003, hiện trú tại: Xóm D, xã T, huyện X không có việc làm và thu nhập ổn định nên đã nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người đi đường bán lấy tiều ăn tiêu cá nhân. Khoảng 11 giờ ngày 16/01/2025, Phạm Tấn S một mình điều khiển xe mô tô BKS: 18F1-485.56 nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng bạc đi từ xóm D, xã T, huyện X đến khu vực xã X, huyện X tìm cơ hội cướp giật tài sản. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, S đi đến chợ C thuộc khu vực xóm A, xã X thì dừng xe đứng quan sát, phát hiện thấy bà Trịnh Thị X, sinh năm: 1957, nơi cư trú: xóm A, xã X, huyện X đang đi xe đạp một mình trên cổ có đeo 01 sợi dây chuyền vàng tây 10 K, có khối lượng 2,42 chỉ, dây không có mặt ở bên ngoài cổ áo. Lúc này bà X đang đi xe đạp vào đường dong ở xóm A, xã X. S điều khiển xe đi theo, đến đoạn đường vắng, S vượt lên phía trước xe bà X khoảng 30 m rồi quay đầu xe, dựng chân chống xe và đứng cạnh xe như đang chờ người khác đánh lạc hướng chú ý của bà X. Khi bà X đi xe đạp đến gần, S liền chạy tới dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ bà X làm sợi dây đứt, tuột khỏi tay S và vướng vào áo bà X. Bà X sợ liền tri hô “Cướp”. S sợ bị bắt nên không tiếp tục chiếm đoạt sợi dây chuyền nữa mà liền lên xe bỏ chạy. Bà X được người dân hỗ trợ đã gỡ sợi dây chuyền ra và cất vào trong người. Đến 15 giờ cùng ngày, bà Trịnh Thị X đến Công an xã X báo nội dung vụ việc và giao nộp 01 sợi dây chuyền do S giật đã bị đứt.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, Phạm Tấn S đến Công an xã X đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô BKS: 18F1-485.56.

Sau khi hoàn thiện thủ tục ban đầu, Công an xã X đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện X để giải quyết.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Tấn S, Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Ngày 17/01/2025 Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá chiếc dây chuyền bị chiếm đoạt. Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 18/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X, kết luận: 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng do nhiều mắt móc nhỏ nối lại với nhau là loại vàng tây 10 K, có khối lượng 2,42 chỉ, giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 8.336.900 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Tấn S đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Cáo trạng số 24/CT-VKSXT, ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Phạm Tấn S về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn S đã phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Tấn S từ 2 năm 6 tháng đến 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 5 năm

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Phạm Tấn S đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bà Trịnh Thị X số tiền: 2.000.000 đồng để bà X sửa chữa sợi dây chuyền, hiện bà X không có yêu cầu, đề nghị gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho S.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô BKS: 18F1-48556 là của ông Phạm Văn H (là bố đẻ S), sinh năm: 1976, ở xóm G, xã T, huyện X, ông H mua để sử dụng chung cho gia đình. Ông H không biết S lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã trả lại cho ông H; 01 sợi dây chuyền vàng tây 10 K, khối lượng 2,42 chỉ Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã trả lại cho bà Trịnh Thị X.

Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bị hại, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 16/01/2025, tại khu vực đường dong thuộc xóm A, xã X, huyện X, Phạm Tấn S có hành vi dùng tay chộp, giật 01 sợi dây chuyền vàng tây 10K, khối lượng 2,42 chỉ, có trị giá: 8.336.900 đồng của bà Trịnh Thị X, sinh năm: 1957, trú tại: xóm A, xã X, huyện X bị phát hiện, làm rõ. Vì vậy, hành vi của Phạm Tấn S đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Cướp giật tài sản” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác cũng như tính mạng con người là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị án, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo theo pháp luật thì mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi ra xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách phù hợp là đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô BKS: 18F1-48556 là của ông Phạm Văn H (là bố đẻ S), sinh năm: 1976, ở xóm G, xã T, huyện X, ông H mua để sử dụng chung cho gia đình. Ông H không biết S lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã trả lại cho ông H; 01 sợi dây chuyền vàng tây 10 K, khối lượng 2,42 chỉ Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã trả lại cho bà Trịnh Thị X là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Phạm Tấn S đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bà Trịnh Thị X số tiền: 2.000.000 đồng để bà X sửa chữa sợi dây chuyền, hiện bà X không có yêu cầu, đề nghị gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho S nên Toà án không xem xét giải quyết.

[09] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn S phạm tội “Cướp giật tài sản”;

    Xử phạt bị cáo Phạm Tấn S 2 (hai) năm 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 5 năm, kể từ ngày tuyên án ngày 25/3/2025; (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2025 đến ngày 26/01/2025).

    Giao bị cáo Phạm Tấn S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo Phạm Tấn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    Bị cáo Phạm Tấn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an Xã;
  • - UBND xã iệp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger