TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BẢN ÁN
Bản án sốN QC5GÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Ngày: TOA AN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Hùng và bà Nguyễn Thị Vân
-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/HSST ngày 28/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với:
1. Lê Thế T - sinnăm: 1987, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Đội 10 xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Thế M và con bà Lê Thị N; vợ: Nguyễn Thị Thanh H; có 03 con: Lớn sinh năm: 2010; nhỏ sinh năm: 2020. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 04/7/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 06 tháng từ cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 02/6/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, xử phạt 32 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 38 tháng tù. Ngày 08/9/2008, Lê Thế T chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích.). Bị cáo bị bắt truy nã, hiện đang bị tạm giam tại phân trại Ú, Trại tạm giam số 2 Công an Thành phố H từ ngày 12/02/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
+ Người bào chữa cho bị cáo Lê Thế T: Ông Lê Hồng K - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)
- Người bị hại: anh Nguyễn Văn B – sinh năm: 1978 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Ứ, TP .
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Bùi Văn T1 – sinh năm: 1985 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn T, xã B, huyện T, TP .
- + Chị Lê Thị L – sinh năm: 1986 (Có mặt)
- + Anh Lê Thế L1 – sinh năm: 1991 (Có mặt)
- + Ông Lê Thế M – sinh năm: 1952 (Vắng mặt)
- Đều địa chỉ: Đ, xã T, huyện T, TP .
- Người làm chứng:
- + Chị Nguyễn Thị Thu H1 – sinh năm: 1985 (Vắng mặt)
- + Anh Nguyễn Văn M1 – sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ
- + Chị Mai Thị M2 – sinh năm: 1980 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. (Nay là xã T, huyện Ứ, TP .)
- + Anh Nghiêm Văn B1 – sinh năm: 1976 (Vắng mặt)
- Địa chủ: thôn N, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội
- + Anh Nguyễn Xuân T2 – sinh năm: 1977 (tên gọi khác: H2) (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tiểu khu Đ, TT. P, huyện P, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/10/2023, anh Nguyễn Văn B có thu mua cá thịt tại ao cá của chị Mai Thị M2 gồm: 1.468 kg cá Trắm cỏ loại 3-4kg/1 con với giá triền 54.000 đồng/kg; 630 kg cá Chép loại từ 1-1.5kg/con với giá tiền từ 32.000 đồng/kg; 1.172 kg cá Rô phi loại từ 1-1,5kg/1con với giá tiền 32.000đ/1kg. Sau đó, anh B thuê xe ô tô chở ra chợ cá Y, H, Hà Nội để bán.
Đến ngày 18/10/2023 (tức ngày 04/9 âm lịch) anh B tiếp tục mua cá của chị M2, với số lượng cá là: cá Trắm cỏ 3.637 kg, cá Chép 1.878 kg, cá Rô phi 2.111 kg; giá tiền anh B mua cũng bằng giá ngày 16/10/2023. Anh B có thuê xe ô tô để chở số cá trên đem bán ở chợ cá Y, H, Hà Nội trong đó: có 01 xe ô tô của Lê Thế T; 01 xe ô tô của anh Nguyễn Xuân T2 (tên gọi khác là H2); 01 xe ô tô của anh Nghiêm Văn B1 đến cân mua, bán cá cho anh B. Sau khi cân cá xong tại ao cá nhà chị M2 thì Lê Thế T, anh T2, mỗi người điều khiển 01 xe ô tô; anh B đi cùng xe ô tô của anh B1, chở cá của anh B ra chợ cá Y, H, để bán. Do hôm đó chợ cá Y Sở nhiều cá nên anh B chỉ bán cá được với giá cá Chép là 32.000đ/1kg, cá Rô phi 36.000đ/1kg, cá Trắm cỏ 51.000đ/1kg. Anh Bình bán hết số cá Rô phi và một phần cá Trắm cỏ, cá Chép, được khoảng hơn 3,5 tấn ở xe ô tô của anh T2, anh B1 và một phần trên xe ô tô của T. Số cá còn lại phần nhiều ở trên xe ô tô của T.
Đến khoảng 14h00 cùng ngày 18/10/2023, do giá bán cá rẻ và khó bán nên anh B có nói chuyện, trao đổi và nhờ T chở số cá còn lại đi bán hộ chỗ khác cho anh B, T đồng ý và nói chở số cá trên đem bán ở tỉnh Phú Thọ vì T là người thường xuyên chở cá đi bán nên biết chỗ thu mua cá với giá cao. Anh B và T không thỏa thuận với nhau giá cá là bao nhiêu. Do xe ô tô của anh T2 là xe loại 7 tấn, có ô xi lạnh nên tất cả những người trên dồn số cá còn lại ở các xe vào xe của anh T2, gồm cá Trắm cỏ và cá Chép, tổng được khoảng 2,4 tấn, anh B không cân. Sau đó, anh T2 điều khiển xe ô tô chở số cá trên còn T ngồi ở ghế phụ chỉ đường cho anh T2. Xe ô tô của T thì anh B điều khiển về để ở nhà anh B1 ở V, P, Hà Nội. T chỉ đường cho anh T2 điều khiển xe ô tô đến chợ cá ở Khu C, xã P, L, Phú Thọ để bán cho vợ chồng chị Nguyễn Thị Thu H1. Khi đến nơi T chuyển cá từ xe ô tô xuống sạp cá của chị H1, chị H1 nhận toàn bộ số cá trên tuy nhiên hai bên không cân vì tin tưởng nhau từ trước. Sau khi giao cá xong thì T và anh T2 đi về. T về nhà anh B1 lấy xe ô tô của mình rồi đi về nhà. Chị H1 sau khi nhận cá của T đã cân cá và bán cá cho từng người buôn nhỏ khác và tự ghi vào sổ ghi chép của chị H1, sau khi bán hết số cá này được 2.317,6 kg được tổng số tiền là 90.598.000 đồng, chị H1 lấy tiền công (gọi là phí chợ) là 2.317.000 đồng, số tiền còn lại là 88.281.000đ (T3 mươi tám triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn đồng), T và H1 thống nhất bớt 1.000 đồng tiền lẻ. Ngày 20/10/2023 chị H1 trả cho T số tiền mua cá mà T bán hộ anh B là 38.000.000đ (ba mươi tám triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng, từ số tài khoản 19038509040018 ngân hàng T4 đăng ký tên Nguyễn Thị Thu H1 đến số tài khoản 19037165102012 ngân hàng T4 đăng ký tên Lê Thế T - sinh năm 1987, HKTT Đội 10, T, T, Hà Nội. Sau khi nhận được số tiền trên T không trả tiền cho anh B mà T sử dụng vào mục đích trả nợ cho những người khác, không được sự đồng ý của anh B. Đến ngày 23/10/2023 anh B nhắn tin qua Zalo đòi tiền T bán cá hộ nhưng T không trả tiền cho anh B; T nhắn tin qua Zalo với chị H1 bảo chị H1 gửi ảnh các mã cân số lượng cá mà anh B nhờ T bán hộ. Chị H1 đã chụp hình ảnh sổ ghi chép của chị H1 số cân cá và giá tiền gửi cho T, sau đó T gửi các hình ảnh này cho anh B.
Đến ngày 24/10/2023 chị H1 chuyển trả cho T nốt số tiền mua cá mà T bán hộ anh B là 50.180.000đ (năm mươi triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), thiếu 100.000đ (một trăm nghìn đồng) so với sổ ghi chép của chị H1 do tài khoản ngân hàng của chị H1 hết tiền, số tiền 100.000 đồng này vài ngày sau chị H1 gặp T và đưa tiền mặt trả T. Sau khi nhận được số tiền trên T không trả tiền cho anh B mà T sử dụng vào mục đích cá nhân của T, không được sự đồng ý của anh B. Anh B nhiều lần: gọi điện thoại, nhắn tin qua Zalo cho T và trực tiếp đến nhà T, để đòi số tiền T bán cá hộ anh B. Tuy nhiên, T không trả tiền cho anh B mà đã sử dụng hết số tiền vào mục đích cá nhân của T, khi anh B đòi thì T hứa hẹn và nại ra nhiều lý do gian dối để nói với anh B: “Chiều nay nó chuyển hết em chuyển cho anh tất cả”; “Mẹ em mổ, chiều nay em lên lấy tiền xong em chuyển ạ”; “Cho em thời hạn 4 ngày nữa em thanh lý ô tô em chuyển trả anh ạ”; “Em đang làm giấy tờ bán xe 3 ngày nữa xong em chuyển”;... sau đó, thì T không nghe điện thoại của anh B nữa, khi anh B đến nhà tìm T để đòi tiền thì T tránh mặt không gặp. Đến ngày 18/3/2024, anh B làm đơn tố giác về tội phạm gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ứ, tố giác Lê Thế T có hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Sau khi tiếp nhận đơn tố giác của anh B, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ đã tiến hành xác minh đơn tố giác về tội phạm của anh B. Cơ quan điều tra đã nhiều lần gửi giấy triệu tập Lê Thế T để làm việc nhưng T không có mặt để làm việc. Cơ quan điều tra phối hợp với chính quyền địa phương nhiều lần đến nhà T để triệu tập làm việc với T nhưng T đều không có mặt ở nhà, T biết việc Cơ quan điều tra triệu tập nhưng T không đến làm việc theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra. Ngày 26/9/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ ra Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với T, Cơ quan điều tra đã nhiều lần phối hợp với Công an xã T và chính quyền địa phương đến nhà T thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với T nhưng T bỏ trốn, không có nhà. Ngày 10/02/2025 Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ ra Quyết định truy nã số 219 đối với T. Ngày 12/02/2025 T bị Phòng C- Công an T bắt theo Quyết định truy nã trên. Vật chứng thu giữ: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 861017079404564 (thu của Lê Thế T khi bắt giữ, điện thoại đã qua sử dụng). Trong phần mềm Zalo trên máy của T có đoạn tin nhắn zalo giữa T và anh B.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Với hành vi nên trên cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Lê Thế T về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” qui định tại khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự; Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; 135; 136 Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016, xử phạt bị cáo: Lê Thế T từ 36 đến 42 tháng từ, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 12/2/2025; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết; Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remid màu đen, số imei 1: 861017079404564; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm bào chữa của Luật sư Lê Hồng K: Nhất trí tội danh và điều luật mà Đại diện viện kiểm sát truy tố áp dụng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, hậu quả không lớn, đã khắc phục hậu quả, nhận thức được hành vi vi phạm của mình, thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
- Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 18/10/2023, anh Nguyễn Văn B nhờ Lê Thế T đi bán cá hộ. T đi xe ô tô chở 2.317,6 kg cá của anh B mang bán cho chị Nguyễn Thị Thu H1 được tổng số tiền là 88.280.000đ (T3 mươi tám triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng). Ngày 20, 24/10/2023 chị H1 đã chuyển khoản trả T tổng số tiền là 88.180.000đ (Tám mươi tám triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) và trả 100.000 đồng tiền mặt cho T. Ngay sau khi nhận được tiền, T đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích cá nhân (trả nợ cho người khác, trả tiền cầm cố xe ô tô) không được sự đồng ý của anh B. Anh B nhiều lần: gọi điện thoại, nhắn tin qua Zalo cho T và trực tiếp đến nhà T, để đòi số tiền T bán cá hộ, nhưng T chỉ hứa hẹn và nại ra nhiều lý do gian dối để không trả tiền cho anh B. Sau đó, T không nghe điện thoại của anh B, khi anh B đến nhà tìm T để đòi tiền thì T tránh mặt không gặp; khi cơ quan điều tra triệu tập thì T trốn tránh, không đến cơ quan điều tra làm việc. Do vậy, Hành vi của Lê Thế T đã phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo tác động người nhà bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong, bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Một số nội dung khác:
Đối với anh Lê Thế L1; chị Lê Thị L; anh Bùi Văn T1 được Lê Thế T trả tiền nhưng họ đều không biết đây là số tiền bán cá của anh B mà có, nên họ không có lỗi.
Anh Nguyễn Xuân T2 chỉ chở xe đi cùng T, không tham gia vào việc mua bán cũng như không biết việc thanh toán tiền nong như nào. Do đó, anh T2 không có lỗi và không đề cập xử lý.
- Về vật chứng: trả lại cho bị cáo: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 861017079404564 của Lê Thế T (điện thoại đã qua sử dụng) phù hợp với Điều 47 Bộ Luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;
- Tuyên bố bị cáo Lê Thế T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
Xử phạt bị cáo Lê Thế T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt 12/02/2025.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Thế T
- Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 861017079404564 (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ứ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, TP ngày 28/02/2025.)
- Về án phí: Bị cáo Lê Thế T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |
Bản án số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 24/2025/QĐXXST-HS
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Lê Thế T phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
