Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM THAO

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS - ST

Ngày: 24 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Bà Đặng Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST - HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đặng Trung D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29 tháng 6 năm 1984 tại Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Nơi thường trú: Khu T, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Đặng Văn H, sinh năm 1954, hưu trí; Mẹ đẻ: Ngô Thị B, sinh năm 1954, hưu trí hiện bố mẹ đều ở tại Khu T, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân Thân:

  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 197/2009/HSST ngày 24/7/2009 của TAND quận Cầu Giấy xử phạt Đặng Trung D 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 138 BLHS 1999. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án; Năm 2012, bị Công an phường Âu Cơ thị xã P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2009/HSST ngày 20/8/2013 của TAND huyện Thanh Trì xử phạt Đặng Trung D 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án; Năm 2015, bị Công an phường T, thị xã P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2019/HSST ngày 28/11/2019 của TAND thị xã Phú Thọ xử phạt Đặng Trung D 8 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị khởi tố bắt tạm giam ngày 05 tháng 12 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

  1. Họ và tên: Chu Văn V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1984 tại T- Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Nơi thường trú: khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Đoàn thể: Đảng viên. Bố đẻ: Chu Xuân T, sinh năm 1957; Mẹ đẻ: Ngô Thị D1, sinh năm 1957; Hiện bố đều mẹ ở tại Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Hà Thị Thanh H1, sinh năm 1982; Con: Có 01 con sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • Năm 2013, bị Công an phường T, thị xã P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • Năm 2019, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Đánh nhau".

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 12 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

  • Anh Lê Quốc H2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
  • Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Công ty TNHH một thành viên T3
  • Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung L, sinh năm 1970 - Chức vụ Giám đốc. Địa chỉ: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
  • Anh Trần Nam S, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
  • Chị Lê Thị Minh G, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu A, xã X, huyện L (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 01/12/2024, Chu Văn V, sinh năm 1984 đến nhà anh Trần Nam S, sinh năm 1982 ở cùng (khu B xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ) để mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445 để đi có việc, anh S đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/12/2024, V điều khiển chiếc xe mô tô biển số 19L1 - 2445 đến quán nước gần cổng trường Đại học H4 thuộc phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ gặp Đặng Trung D, sinh năm 1984, ở khu T, phường Â, thị xã P tỉnh Phú Thọ ngồi uống nước cùng nhau. Tại đây, do không có tiền tiêu sài nên cả hai cùng rủ nhau đi sang địa bàn huyện L tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Sau đó, V điều khiển xe mô tô biển số 19L1 - 2445 chở D ngồi sau. Đến khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 03/12/2024 khi cả hai đi gần đến đường sắt cắt ngang thuộc khu A, xã X, huyện L thấy một xe ô tô tải nhãn hiệu TRUONG GIANG, màu vàng đen, biển số 19H - 011.08 của công ty TNHH một thành viên T3 giao cho lái xe là anh Lê Quốc H2, sinh năm 1991, ở khu A, xã X, huyện L quản lý, sử dụng đang dừng đỗ trước cửa nhà. Thấy không có người trông coi, trên đường không có phương tiện qua lại nên cả hai rủ nhau trộm cắp bình ắc quy của chiếc xe ô tô tải này. D bảo V điều khiển xe mô tô đi qua chiếc xe ô tô tải biển số 19H - 011.08 khoảng 20m thì dừng đỗ xe, V ngồi trên xe để cảnh giới, D xuống xe mô tô đi bộ lại sát vị trí chiếc xe ô tải, vòng ra vị trí sườn chiếc xe ô tô tải phát hiện thấy bình ắc quy đang treo ở gầm xe ô tô tải. D chui vào gầm xe rồi nằm ngửa dưới mặt đất nhìn thì thấy xe ô tô tải này có 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen đang gắn ở gầm xe, D dùng hai tay đẩy bình ắc quy của xe ô tô tải này theo hướng từ dưới lên trên rồi giật đứt dây nối, kéo bình ắc quy này ra khỏi xe ô tô tải này và đặt xuống nền đất rồi kéo ra khỏi gầm xe. Khi trộm cắp được 02 bình ắc quy D vẫy tay gọi V lại, V hiểu ý D đã trộm cắp được tài sản nên điều khiển xe mô tô quay đầu lại sát phần đuôi xe ô tô tải, D ôm nhấc 01 bình ắc quy đặt ở giữa giá để hàng cho V giữ, bình ắc quy còn lại D ôm nhấc đặt ở giữa yên xe rồi ngồi sau ôm bình ắc quy. Sau đó, cả hai mang theo 02 bình ắc quy vừa trộm cắp cùng nhau đi về hướng xã T, huyện L, trên đường đi cả hai tiếp tục rủ nhau tìm kiếm xe ô tải dựng ở lề đường để trộm cắp bình ắc quy nên đã giấu 02 bình ắc quy trộm cắp vào bụi cây ven đường. Đến khoảng gần 3 giờ sáng cùng ngày, khi cả hai đi qua Ủy ban nhân dân xã T để đi về ngã 3 T, huyện L, thì thấy bên phải đường theo chiều đi chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu TRUONG GIANG, sơn màu vàng, biển số 19C1 - 231.09 đang của gia đình chị Nguyễn Thị X thuộc khu D, xã T, huyện L đang dừng đỗ trước nhà. V điều khiển xe đi qua vị trí chiếc ô tô tải biển số 19C1 - 231.09 cách khoảng 30m thì dừng đỗ và ngồi cảnh giới. D xuống xe mô tô đi bộ lại sát chiếc xe ô tải, vòng ra vị trí để bình ắc quy, D cúi người nhìn vào trong gầm xe thì thấy 02 bình ắc quy GS Hybrib N100 12V -100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen đang gắn ở gầm xe, D dùng tay đẩy lần lượt 02 bình ắc quy của xe ô tô tải này theo hướng từ dưới lên trên rồi giật đứt dây nối, kéo bình ắc quy này ra khỏi gầm xe ô tô tải này và đặt xuống nền đất. Sau đó, V điều khiển xe mô tô tiến sát gần đầu xe ô tô tải biển số 19C1 - 231.09, D ôm nhấc 01 bình ắc quy đặt ở giữa giá để hàng cho V giữ, bình ắc quy còn lại D ôm nhấc đặt ở giữa yên xe mô tô và ngồi sau ôm bình ắc quy này. Tiếp đó, D bảo V điều khiển xe mô tô đi về xã X, huyện L để bán 02 bình ắc quy trộm cắp. Khoảng hơn 3 giờ khi cả hai đi đến gần chợ X1, huyện L thì D bảo V đi đến của hàng thu mua sắt vụn của chị Lê Thị Minh G, sinh năm 1983, ở khu A xã X, huyện L mở cửa 24/24 giờ để bán bình ắc quy. Tại cửa hàng thu mua phế liệu của chị G, cả hai đã bán 02 bình ắc quy cho chị G được số tiền 1.100.000 đồng. Sau đó, cả hai cùng nhau quay lại vị trí cất giấu 02 bình ắc quy trộm cắp tại xã X, huyện L và lấy 02 bình ắc quy này tiếp tục đem đến bán cho chị G được số tiền 800.000 đồng, khi bán 04 bình ắc quy cho chị G có hỏi D và V về nguồn gốc ác quy. D, V cho chị G biết đây là số bình ắc quy mua lại được của xe ô tô tải mới thay bình ắc quy cũ, không nói cho chị G biết các bình ắc quy này là tài sản trộm cắp. Tổng cộng vào ngày 03/12/2024, D và V đã bán cho chị G 04 bình ắc quy được số tiền 1.900.000 đồng, D là người cầm tiền. Số tiền này D và V đã sử dụng đi ăn uống cùng nhau, tiêu sài cá nhân hết.

Cơ quan điều tra Công an huyện L đã triệu tập Đặng Trung D tạm giữ: 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, có mũ áo, màu nâu trắng, 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, màu xám, mặt trước áo có in dòng chữ “Sing Seng”, 01 chiếc quần dài loại quần nỉ, màu đen, mặt trước quần có in dòng chữ “Sannyny”, 01 đôi giày loại giày thể thao, màu xám có dòng chữ “Fashion Sport”. Ngày 06/12/2024 Chu Văn V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú và tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445, xe có 01 gương chiếu hậu bên phải. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra chị Lê Thị Minh G tự nguyện giao nộp 04 bình ắc quy GS Hybrib N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen.

Ngày 04/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1297, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L định giá tài sản mà D và V đã trộm tại khu D xã T, huyện L. Tại Bản kết luận định giá số 64/KL - HĐĐGTS ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 02 bình ắc quy GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là: 2.100.000 đồng.

Ngày 20/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 76, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L định giá tài sản mà D và V đã trộm cắp tại khu A xã X, huyện L. Tại Bản kết luận định giá số 05/KL - HĐĐGTS ngày 23/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 02 bình ắc quy GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen, tình trạng hoạt động bình thường, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là: 1.600.000 đồng.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ:

  • 04 bình ắc quy GS Hybrib N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen, đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, có mũ áo, màu nâu trắng, đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, màu xám, mặt trước áo có in dòng chữ “Sing Seng”, đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc quần dài loại quần nỉ, màu đen, mặt trước quần có in dòng chữ “Sannyny”, đã qua sử dụng.
  • 01 đôi giày loại giày thể thao, màu xám có dòng chữ “Fashion Sport”, đã qua sử dụng.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445, xe có 01 gương chiếu hậu bên phải, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 đã ủy quyền cho anh Lê Quốc H2 đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 tham gia giải quyết vụ việc và được toàn quyền quyết định.

Chu Văn V đã tác động gia đình đã nộp lại số tiền 950.000 đồng là số tiền bị cáo cùng tiêu sài cá nhân với D sau khi hưởng lợi từ việc bán tài sản.

Đối với anh Trần Nam S, là người đã cho V mượn xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445, tuy nhiên, khi hỏi mượn xe của anh S thì V không nói với anh S về việc mượn xe để đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý đối với anh Trần Nam S.

Đối với chị Lê Thị Minh G là người đã mua bình ắc quy của D và V đem đến bán. Tuy nhiên, khi mua các bình ắc quy D, V bảo mua lại được của xe ô tô thay thế bình mới. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý đối với chị G.

Chị Nguyễn Thị X và Lê Quốc H2 đề nghị nhận lại tài sản trộm cắp, ngoài ra không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì. Chị Lê Thị Minh G đã nhận số tiền bồi thường 950.000 của gia đình Chu Văn V và không yêu cầu V bồi thường gì thêm và không yêu cầu Đặng Trung D bồi thường.

Về tài sản: Qua xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định: Đặng Trung D hiện đang sinh sống cùng gia đình trên thửa đất đứng tên hộ ông Đặng Văn H, sinh năm 1954, ở khu T, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ là bố đẻ của D. D không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị; Chu Văn V sống cùng gia đình trên thửa đất đứng tên ông Chu Xuân T, sinh năm 1957, ở khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ là bố đẻ của V. V không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi.

Tại Cáo trạng số 06/CT- VKSLT ngày 19/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã truy tố đối với Đặng Trung D và Chu Văn V về tội "Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với D); Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với V).

*. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Trung D và Chu Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

*. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Trung D từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 12 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Chu Văn V từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 12 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

*. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Trả lại cho anh Lê Quốc H2 và chị Nguyễn Thị X mỗi người 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen và trả lại anh Trần Nam S chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445, xe có 01 gương chiếu hậu bên phải, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu tiêu hủy của bị cáo D: 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, có mũ áo, màu nâu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, màu xám, mặt trước áo có in dòng chữ “Sing Seng”, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài loại quần nỉ, màu đen, mặt trước quần có in dòng chữ “Sannyny”, đã qua sử dụng; 01 đôi giày loại giày thể thao, màu xám có dòng chữ “Fashion Sport”, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 26/02/2025).

  • Xác nhận chị Lê Thị Minh G đã nhận lại số 950.000đồng từ bị cáo V và gia đình bị cáo (Theo biên bản thỏa thuận đền bù dân sự ngày 23/01/2025).

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị X và Lê Quốc H2 đề nghị nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có đề nghị bồi thường thêm gì. Chị Lê Thị Minh G đã nhận số tiền bồi thường 950.000đồng của bị cáo V và gia đình, chị G không yêu cầu V, D bồi thường gì thêm. Vì vậy, không đặt ra giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Đặng Trung D và Chu Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm (HSST).

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và trình bày tại phiên tòa như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1 ]. Về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho các bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.

[1.2 ]. Về tư cách tố tụng: Thời điểm chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu TRUONG GIANG, màu vàng đen, biển số 19H-011.08 bị mất trộm 02 chiếc ắc quy Công ty TNHH một thành viên T3 giao cho lái xe là anh Lê Quốc H2 trực tiếp quản lý, sử dụng. Hội đồng xét xử xác định anh H2 là bị hại và Công ty TNHH một thành viên T3 là bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Đêm 02/12/2024, rạng sáng ngày 03/12/2024, Đặng Trung D và Chu Văn V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen, trị giá 1.600.000 đồng của công ty TNHH một thành viên T3 giao cho lái xe là anh Lê Quốc H2 quản lý, sử dụng và lén lút chiếm đoạt 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen, trị giá 2.100.000 đồng của cửa hàng vật liệu xây dựng của chị Nguyễn Thị X. Tổng giá trị tài sản D và V trộm cắp là 3.700.000 đồng.

Do vậy, hành vi của bị cáo Đặng Trung D và Chu Văn V đã phạm tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

[3]. Về tính chất, động cơ, mục đích của hành vi phạm tội:

Các bị cáo là người đã trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức được trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, với lỗi cố ý trực tiếp; vì động cơ, mục đích vụ lợi, muốn kiếm tiền nhanh chóng. Điều đó thể hiện sự ngang nhiên, coi thường pháp luật, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù, thuộc loại tội ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng đối với từng bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với từng bị cáo.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân rất xấu. Bị cáo D đã 02 lần bị xét xử và xử lý về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, đều đã được xóa án tích. Bị cáo V đã 2 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong.

[4.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Chu Văn V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra bị cáo V tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm b, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo V đã ra đầu thú; bị cáo D có bố là Đặng Văn H được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì; Huân chương chiến công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương bảo vệ tổ quốc hạng ba. Vì vậy, hai bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt:

[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với từng bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đặng Trung D và Chu Văn V đều là các đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo V đã 2 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và hành vi “Đánh nhau”. Bị cáo D đã 03 lần bị xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Thể hiện sự ngang nhiên, coi thường pháp luật. Vì vậy, bảo đảm tính răn đe, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù giam. Để các bị cáo cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội,

Tuy nhiên, cũng cần phân hóa vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của 2 bị cáo trong vụ án để đưa ra một mức hình phạt phù hợp. Bị cáo D và V đều cùng nhau bàn bạc, thống nhất đi trộm cắp tài sản. Bị cáo V là người chuẩn bị phương tiện đi lại, chở bị cáo D và cảnh giới; Bị cáo D trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo D có nhân thân xấu hơn lại ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo V. Vì vậy, cần xử V với mức hình phạt tù nhẹ hơn bị cáo D như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.

[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy: Các là các đối tượng nghiện ma túy; Lao động tự do, thu nhập không ổn định; sống cùng gia đình, không có tài sản riêng có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • Cần trả lại cho anh Lê Quốc H2 và chị Nguyễn Thị X mỗi người 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen và trả lại anh Trần Nam S chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445, xe có 01 gương chiếu hậu bên phải, đã qua sử dụng. Anh H2 có trách nhiệm trả lại cho Công ty TNHH một thành viên T3 tài sản là 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen theo quy định của pháp luật.
  • Đối 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, có mũ áo, màu nâu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, màu xám, mặt trước áo có in dòng chữ “Sing Seng”, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài loại quần nỉ, màu đen, mặt trước quần có in dòng chữ “Sannyny”, đã qua sử dụng; 01 đôi giày loại giày thể thao, màu xám có dòng chữ “Fashion Sport”, đã qua sử dụng. Tại phiên tòa bị cáo D trình bày không nhận lại, đề nghị tiêu hủy. Cần tịch thu tiêu hủy những vật chứng trên là phù hợp.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 26/02/2025).

  • Cần xác nhận chị Lê Thị Minh G đã nhận lại số 950.000đồng từ bị cáo V và gia đình bị cáo (Theo biên bản thỏa thuận đền bù dân sự ngày 23/01/2025).
  • Đối với số tiền 1.900.000 đồng các bị cáo đã bán ắc quy cho chị G. Bị cáo V đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 950.000đồng. Số tiền còn thiếu 950.000 chị G không đề nghị các bị cáo phải bồi thường, nên cũng không đặt ra vấn đề truy thu trong vụ án là phù hợp.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị X và Lê Quốc H2 đề nghị nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có đề nghị bồi thường thêm gì. Chị Lê Thị Minh G đã nhận số tiền bồi thường 950.000đồng của bị cáo V và gia đình, chị G không yêu cầu V, D bồi thường gì thêm. Vì vậy, không đặt ra giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án là phù hợp quy định pháp luật.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Các vấn đề khác:

Đối với anh Trần Nam S, là người đã cho V mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445 và chị Lê Thị Minh G là người đã mua 04 bình ắc quy của D và V. Tuy nhiên, khi hỏi mượn xe thì V không nói với anh S việc mượn xe để đi trộm cắp tài sản và chị G cũng không biết là tài sản do các bị cáo trộm cắp. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý đối với anh Trần Nam S và chị Lê Thị Minh G là phù hợp.

[10]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với D); Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với V); khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Trung D và Chu Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

  • Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Đặng Trung D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 12 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Chu Văn V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 12 năm 2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

  • Trả lại cho anh Lê Quốc H2 và chị Nguyễn Thị X mỗi người 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS Hybrid N100 12V - 100Ah, vỏ bên ngoài màu trắng, phần nắp ắc quy màu đen và trả lại anh Trần Nam S chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số 19L1 - 2445, xe có 01 gương chiếu hậu bên phải, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu tiêu hủy của bị cáo D: 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, có mũ áo, màu nâu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác loại áo khoác nỉ, màu xám, mặt trước áo có in dòng chữ “Sing Seng”, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần dài loại quần nỉ, màu đen, mặt trước quần có in dòng chữ “Sannyny”, đã qua sử dụng; 01 đôi giày loại giày thể thao, màu xám có dòng chữ “Fashion Sport”, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 26/02/2025).

  • Xác nhận chị Lê Thị Minh G đã nhận lại số 950.000đồng từ bị cáo V và gia đình bị cáo (Theo biên bản thỏa thuận đền bù dân sự ngày 23/01/2025).

4. Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị X và Lê Quốc H2 đề nghị nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có đề nghị bồi thường thêm gì. Chị Lê Thị Minh G đã nhận số tiền bồi thường 950.000đồng của bị cáo V và gia đình; chị G không yêu cầu V, D bồi thường gì thêm. Vì vậy, không đặt ra giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án.

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Đặng Trung D và Chu Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Lâm Thao;
  • - Cơ quan THAHS - HTTP CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THA huyện Lâm Thao;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLVNVLQ;
  • - Lưu AV, HS.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Đình Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS - ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 25/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo D và V phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger