|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HSST Ngày 21 - 3 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phùng Đình Bàn - Cán bộ tư pháp phường Hội Hợp.
- Bà Vũ Thị Kim Dung - Giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hà Như Quỳnh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Đoàn Tuấn Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Nguyễn Chí T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2007; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình D và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/12/2024 đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Trần Bích H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V (Có mặt).
- Bị hại: Anh Hoàng Tiến M, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- + Anh Trần Anh H1, sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT: Khu A, D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện nay: Số nhà A, đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
- + Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Cháu Nguyễn Đình P, sinh ngày 27/11/2007; nơi cư trú: Thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu P: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- + Cháu Nguyễn Văn D1, sinh ngày 08/11/2008; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu D1: Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1989 và bà Lê Thị M1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (Ông B1 có mặt).
- + Cháu Đào Thiện N, sinh ngày 09/11/2008; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu N: Ông Đào Xuân T3, sinh năm 1978 và bà Tô Thị Minh H3, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Bà H3 có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Dương Nguyễn Chí T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác đem đi bán lấy tiền. Tối ngày 21/11/2024, T chuẩn bị 01 tua vít, 01 ghim cài đúc vào trong ba lô màu đen thường ngày T vẫn mang đi học với mục đích chiều ngày 22/11/2024 sau khi tan học T sẽ đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Sáng ngày 22/11/2024, T đi học, đến chiều cùng ngày T đi đến Trung tâm thanh thiếu nhi tỉnh V tại địa chỉ số F, đường N, phường Đ, thành phố V với mục đích tìm kiếm xe mô tô do người dân sơ hở trong việc quản lý để lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến trước cửa tòa nhà đa năng của trung tâm T4 sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 88B1-370.55 của anh Hoàng Tiến M, sinh năm 1988 ở phường Đ, thành phố V không có ai trông giữ, quản lý (qua kiểm tra T phát hiện xe không khoá cổ) thì T dắt xe ra cổng phụ của trung tâm ở đường L. T dựng xe ở vỉa hè đường L và dùng tua vít tháo phần mặt nạ xe, dùng ghim cài đấu dây điện để khởi động xe. Sau khi khởi động được xe, Thanh lắp lại phần mặt nạ, cất tua vít và ghim cài, tháo và cất biển kiểm soát của xe mô tô trên vào ba lô của T rồi điều khiển xe đi đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh V ở phường L, thành phố V nhằm cất giấu xe rồi đi về nhà tại số C, đường M, phường L, thành phố V. Trưa ngày 23/11/2024, T đến lấy xe mô tô trên tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh V rồi điều khiển xe đi ra khu vực chợ V thuộc phường N, thành phố V thuê thợ khóa làm chìa khóa mới rồi điều khiển xe đến trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật Vĩnh Phúc để học. Chiều ngày 23/11/2024, T mở cốp xe kiểm tra thấy trong cốp có 01 ví da nam màu nâu nhãn hiệu Dodavi, trong ví có 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 căn cước công dân, 01 thẻ đảng viên đều mang tên Hoàng Tiến M, số tiền 50.000đ và 01 chiếc cờ lê nên T cất hết tất cả số đồ vật nêu trên vào ba lô rồi mang xe đi cất giấu tại bệnh viện Đ.
Trưa ngày 25/11/2024, do không biết chỗ bán xe máy nên T nhờ và rủ các bạn cùng lớp là cháu Nguyễn Đình P, sinh năm 2007 ở xã T, thành phố V; cháu Đào Thiện N, sinh năm 2008 ở xã C, huyện V và cháu Nguyễn Văn D1, sinh năm 2008 ở xã L, huyện L để đi tìm địa điểm bán xe máy trên (T nói với các bạn rằng đây là xe máy mới được mẹ mua cho T) thì P, N và D1 đồng ý. P chỉ cho T đến một cửa hàng bán điện thoại ở xã T, thành phố V nhưng không bán được xe nên T, P, N và D1 điều khiển xe đi về khu vực phường Đ, thành phố V để tìm địa điểm bán xe. Khi đến khu vực TDP L, phường Đ, thành phố V, thì T thấy có 01 cửa hàng sửa xe máy điện. Tại đây, T gặp và đề nghị bán chiếc xe máy nêu trên cho anh Trần Anh H1, sinh năm 1995 ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, anh H1 đồng ý. Cả hai thoả thuận tiền bán xe là 8.000.000đ và T được quyền mua lại xe sau vài ngày nếu T có tiền. Do không nhớ số tài khoản ngân hàng của bản thân nên T nhờ cháu N cho mượn số tài khoản thì cháu N đồng ý và đọc cho T tài khoản ngân hàng M2 số 0393155207 của Nguyễn Văn K, sinh năm 2006 ở xã C, huyện V (đây là tài khoản của anh K là anh họ của Đào Thiện N và cho N mượn để sử dụng). Sau đó, Anh H1 sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số [...] chuyển vào tài khoản của anh K số tiền 8.000.000đ. Sau khi N xác nhận đã nhận được tiền thì T đưa chìa khoá xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh H1 rồi đi về. Tối ngày 25/11/2024, T nhắn tin qua phần mềm Facebook Messenger thoả thuận với anh H1 chuyển thêm 2.000.000đ tiền mua xe, anh H1 đồng ý và dùng tài khoản ngân hàng V1 số [...] chuyển vào tài khoản ngân hàng M3 số 0784651078 mang tên Dương Nguyễn Chí T. Đến sáng ngày 30/11/2024, do đã tiêu xài hết tiền bán xe nên T tiếp tục nhắn tin cho anh H1 và đề nghị không mua lại xe nữa mà bán đứt cho anh H1, đề nghị anh H1 chuyển thêm 2.300.000đ thì anh H1 đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số [...] chuyển vào tài khoản ngân hàng M3 số 0784651078 mang tên Dương Nguyễn Chí T số tiền 1.000.000đ, đến chiều cùng ngày do T đi học nên nhờ anh H1 chuyển số tiền 1.300.000₫ vào số tài khoản của N. Đến chiều ngày 30/11/2024, do T đã tiêu xài hết tiền bán xe nên tiếp tục đề nghị anh H1 chuyển thêm tiền bán xe cho T thì anh H1 đồng ý và chuyển khoản vào số tài khoản của N số tiền 100.000đ. Đồng thời anh H1 nhắn với T là đã thanh toán đầy đủ tiền bán xe, từ sau anh H1 sẽ không liên lạc với T nữa. Tổng số tiền anh H1 chuyển khoản để mua xe máy của T là 12.400.000đ. Số tiền bán xe này T sử dụng để trả nợ cho P 220.000đ và D1 120.000đ, số tiền còn lại thì T đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi mua được chiếc xe mô tô BKS 88B1-370.55 của T thì anh H1 đã mang bán cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1998 ở thôn K, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội được số tiền 14.200.000đ. Anh C sau đó bán lại cho anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1987 ở xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc được số tiền 15.100.000đ. Ngày 30/11/2024, anh M đến cơ quan Công an trình báo sự việc đề nghị giải quyết việc mình bị trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô trên.
Ngày 02/12/2024, Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với Dương Nguyễn Chí T và thu giữ được chiếc xe mô tô BKS: 88B1-370.55 do anh Hoàng Văn T2 giao nộp. Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận rõ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như nêu trên. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã đưa T đi chỉ dẫn vị trí trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 88B1-370.55, kết quả T đã chỉ dẫn đúng vị trí hiện trường T trộm cắp xe mô tô. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra. T tự nguyện giao nộp: 01 ba lô màu đen có 02 quai đeo không có nhãn mác (đã cũ, qua sử dụng); 01 ví da nam màu nâu nhãn hiệu Dodavi (đã cũ, qua sử dụng); 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 căn cước công dân, 01 thẻ đảng viên số đều mang tên Hoàng Tiến M; 01 (một) áo kẻ ca rô dài tay sọc màu xanh và trắng phía trong cổ áo thêu chữ “ATK” (đã cũ, qua sử dụng); 01 (một) quần bò ống chân dài màu xanh bên ngoài có gắn mác ký hiệu “DSQUARED2” (đã cũ, qua sử dụng); 01 (một) chiếc tua vít dài khoảng 20cm, chuôi màu đỏ (đã cũ, qua sử dụng); 01 (một) chiếc cờ lê dài 10cm (đã cũ, qua sử dụng) và số tiền 50.000đ.
Kết quả định giá tài sản:
Ngày 04/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Yêu cầu định giá tài sản số 4683/YC-ĐCSHS đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá đối với chiếc xe mô tô BKS 88B1-370.55 và ví da mà T đã trộm cắp của anh Hoàng Tiến M như nêu trên. Ngày 05/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V có bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐG, theo đó kết luận:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen BKS: 88B1-370.55, số khung: RLHJ3921PY724119; số máy: JA39E3131055 (đã cũ, qua sử dụng đăng ký tháng 5/2023) trị giá: 14.500.000đ (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
- + 01 (một) ví da nam dạng gập hình chữ nhật màu nâu bên ngoài khắc chữ Dodavi (đã cũ, qua sử dụng) trị giá: 58.300đ (Năm mươi tám nghìn ba trăm đồng).
Tổng giá trị tài sản nêu trên là: 14.558.300đ (Mười bốn triệu năm trăm năm mươi tám nghìn ba trăm đồng).
Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận định giá cho bị cáo T và anh M, không ai ý kiến thắc mắc gì.
Tại Cáo trạng số 27/CT – VKSNDTPVY-VP ngày 18 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo Dương Nguyễn Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Nguyễn Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của luật Hình sự; xử phạt bị cáo Dương Nguyễn Chí T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Nguyễn Chí T không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội.
Người bào chữa cho các bị cáo T là bà Trần Bích H trình bày luận cứ bào chữa đưa ra quan điểm: Về tội danh hoàn toàn đồng ý với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố đối với bị cáo T. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo T mức hình phạt nhẹ nhất.
Bị hại là anh Hoàng Tiến M vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã có lời khai và xác nhận lời khai của bị cáo T về việc trộm cắp tài sản là chiếc xe máy BKS: 88B1-370.55 là đúng. Anh M xác nhận đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc xe máy trên. Sau khi nhận xe máy, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đều có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà và trong quá trình điều tra, bị cáo Dương Nguyễn Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 22/11/2024, tại khu vực Trung tâm thanh thiếu nhi tỉnh V ở số F, đường N, phường Đ, thành phố V, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Hoàng Tiến M, Dương Nguyễn Chí T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe moto Honda Wave BKS: 88B1 – 370.55 màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng bên trong cốp xe có 01 ví da nam màu nâu nhãn hiệu Dodavi đã cũ, đã qua sử dụng, số tiền 50.000đ và một số giấy tờ cá nhân, tài sản không có giá trị khác, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là: 14.608.300đ (trong đó trị giá chiếc xe mô tô là: 14.500.000đ; trị giá chiếc ví da là 58.300đ và số tiền 50.000đ).
Hành vi của Dương Nguyễn Chí T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo là người là người chưa có tiền án, tiền sự; thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa 18 tuổi (17 tuổi 12 ngày). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả; tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện, giáo dục bị cáo luôn có ý thức chấp hành pháp luật và có cơ hội sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 91 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đen BKS: 88B1-370.55, 01 ví da nam màu nâu nhãn hiệu Dodavi, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 căn cước công dân, 01 thẻ đảng viên đều mang tên Hoàng Tiến M, số tiền 50.000đ và 01 chiếc cờ lê. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và các giấy tờ, tài sản trên đều là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Tiến M. Ngày 05/01/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho anh M theo quy định là phù hợp.
Đối với 01 chiếc tua vít, 01 ba lô màu đen, 01 áo kẻ ca rô dài tay, 01 quần bò ống do T giao nộp, quá trình điều tra xác định đây là công cụ, trang phục T sử dụng để trộm cắp tài sản. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ghim cài mà T sử dụng để đấu nối dây điện của xe máy, quá trình điều tra chiếc ghim này T đã làm mất sau khi trộm cắp được xe mô tô BKS: 88B1-370.55 nhưng không biết mất ở vị trí nào, đến nay cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi nào tìm thấy sẽ xử lý theo quy định là phù hợp.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với anh Trần Anh H1 là người mua xe mô tô BKS: 88B1-370.55 của T. Quá trình điều tra xác định khi mua xe mô tô của T thì anh H1 không biết chiếc xe này do T trộm cắp mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh H1 là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn C là người mua xe của anh H1 và anh Hoàng Văn T2 là người mua xe của anh C. Quá trình điều tra xác định khi mua xe mô tô BKS: 88B1-370.55, anh C và anh T2 đều không biết chiếc xe này do T trộm cắp mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp.
Đối với cháu Đào Thiện N, cháu Nguyễn Đình P và cháu Nguyễn Văn D1 là người đã đi cùng T bán xe mô tô cho anh Trần Anh H1. Quá trình điều tra xác định những người này không biết chiếc xe mô tô BKS: 88B1-370.55 là do T trộm cắp mà có, T nói đây là xe máy mới do mẹ mua cho nhưng đang cần tiền tiêu xài nên nhờ các bạn cùng lớp chỉ chỗ và đi bán cùng. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Đối với anh Trần Anh H1 đã được bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ của T đã bồi thường số tiền 12.400.000đ (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Do vậy, anh H1 không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
- Đối với anh Nguyễn Văn C đã được anh Trần Anh H1 bồi thường đủ số tiền 14.200.000₫ (Mười bốn triệu hai trăm nghìn đồng) mà anh C đã mua xe mô tô của anh H1. Do vậy, anh C không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
- Đối với anh Hoàng Văn T2 đã được anh Nguyễn Văn C bồi thường đủ số tiền 15.100.000đ (Mười năm triệu một trăm nghìn đồng) mà anh T2 đã mua xe mô tô BKS: 88B1-370.55 của anh C. Do vậy, anh T2 không có yêu cầu bồi thường gì.
[9] Về án phí: Bị cáo Dương Nguyễn Chí T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Dương Nguyễn Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Nguyễn Chí T 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Nguyễn Chí T cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc tua vít, 01 ba lô màu đen, 01 áo kẻ ca rô dài tay, 01 quần bò ống (đều đã cũ, đã qua sử dụng).
(Toàn bộ vật chứng tịch thu tiêu hủy của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên ngày 27/02/2025).
Về án phí: Bị cáo Dương Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lương Văn Tuấn |
Bản án số 25/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Nguyễn Chí T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
