Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Văn Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST–HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Phước T, sinh năm 2004 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ; tạm trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Võ Văn D và bà Nguyễn Thị T1; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Phước T là công nhân Công ty S tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vào khoảng đầu tháng 12/2022, vì có nhu cầu có giấy phép lái xe hạng A1 nhưng không có thời gian đi học nên T có sử dụng điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) của T để lên mạng xã hội tìm hiểu và kết bạn với 01 tài khoản Facebook (không nhớ tên tài khoản Facebook) có đặt làm giấy phép lái xe (GPLX) giả, T đã đặt làm GPLX hạng A1 với chủ tài khoản Facebook này, sau đó tài khoản Facebook nói trên hướng dẫn T kết bạn với 01 tài khoản Zalo (T không nhớ tên tài khoản). Qua trao đổi về việc đặt GPLX với tài khoản Zalo trên, T cần đóng phí là 1.300.000 đồng, T đã gửi hình chân dung 3x4 và hình căn cước công dân cho bên nhận làm GPLX giả. T đồng ý tiền phí và cung cấp các thông tin liên quan, đến khoảng ngày 10/12/2022 T có nhận được cuộc gọi nhận hàng từ đơn vị giao hàng để ra nhận hàng, T ra nhận hàng và trả tiền mặt là 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng), sau đó kiểm tra thấy bên trong có 01 GPLX hạng A1 số: [...] có các thông tin mà T đã cung cấp để đặt làm GPLX giả. Ngày 21/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 83Z1-031.02 trên đường ĐT749A thuộc ấp L, xã L thì bị Tổ tuần tra, kiểm soát đảm bảo Trật tự an toàn giao thông - Công an huyện B đang thực hiện nhiệm vụ tại đường ĐT749A thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương kiểm tra, T có xuất trình GPLX trên thì bị phát hiện GPLX xe trên có dấu hiệu làm giả nên đã lập biên bản, tạm giữ GPLX để xác minh, làm rõ.

Ngày 12/01/2024, Công an huyện B trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định Giấy phép lái xe “PET” hạng A1 số [...], hạng A1, họ tên “Võ Phước T”, sinh năm: 2004, nơi cư trú: X. T, H. T, TP . do Sở giao thông vận tải thành phố C cấp ngày 10/11/2022.

Ngày 16/01/2024, Phòng K Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số: 481/KL- KTHS(TL) như sau: 01 (một) giấy phép lái xe (PET) số [...], hạng A1, họ tên “Võ Phước T”, sinh năm: 2004, nơi cư trú: X. T, H. T, TP ., đề ngày 10/11/2022 (ký hiệu A) là giả.

Ngày 30/5/2024 Đ1 – trật tự chuyển hồ sơ cùng tang vật cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với (điện thoại di động, sim điện thoại, tài khoản Facebook và Zalo) của Võ Phước T do Võ Phước T đã làm mất điện thoại di động và sim điện thoại, Võ Phước T đã quên mất tài khoản Facebook và Zalo của mình nên Cơ quan điều tra không thể trích xuất dữ liệu điện tử trong điện thoại của Võ Phước T được.

Đối với chủ tài khoản Facebook và Z đã nhận làm Giấy phép lái xe cho T. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Cáo trạng số 141/CT-VKSBB ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Võ Phước T về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, các phần khác vẫn giữ nguyên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Về hình phạt:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng.

- Về biện pháp tư pháp: Không đề nghị xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 41 phút ngày 10/01/2024 lực lượng tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự án toàn giao thông Công an huyện B thực hiện nhiệm vụ tại đường ĐT750 thuộc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương phát hiện Trần Thanh Đ điều khiển xe mô tô biển số 63M1–254.21 vi phạm điều khiển xe mà trong hơi thở có nồng độ cồn. Điền cung cấp cho lực lượng một giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thanh Đ thông qua phương pháp giám định đủ cơ sở để xác định giấy phép lái xe “PET” số 96008007899 hạng A1 họ và tên “Trần Thanh Đ” là giấy phép lái xe giả. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Như đã nhận định, hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự và không làm thay đổi điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Vì vậy căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có cha là thương binh. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo. Từ đó, giúp bị cáo nhận thấy được sự khoan hồng của pháp luật, tự khắc phục lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng là có căn cứ chấp nhận một phần.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 298, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Phước T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Phước T số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Phước T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger